Thư Phong trào Con đường Việt Nam chào mừng luật sư Lê Công Định

aaccHôm nay là một ngày thật đặc biệt đối với phong trào Con Đường Việt Nam: ngày luật sư Lê Công Định bước ra khỏi nhà tù để trở về với vòng tay gia đình và bạn bè. Một ngày mà rất nhiều người chúng ta đã đón chờ từ lâu.

Trước đó vài ngày, chúng tôi nhận được tin anh sẽ về vào ngày 26 Tết. Trong tâm trạng chờ đợi, chúng tôi chỉ biết cùng nhau cầu mong cho điều này trở thành sự thực. Tất cả mọi người đã từng mừng hụt vào năm ngoái, khi nhà cầm quyền có ý định trả tự do cho anh Định nhưng sau đó rút lại quyết định này vào phút cuối.

Phong trào Con Đường Việt Nam mừng vui đón chào anh Định trở lại với gia đình, bạn bè và cộng đồng. Một phần vì chúng tôi mong ước rằng sẽ không còn một tù nhân lương tâm – cách gọi những người bị bắt giam chỉ vì bày tỏ ý kiến của mình một cách ôn hòa – nào nữa trên đất nước này. Một phần lớn hơn: Luật sư Lê Công Định là một người bạn, người anh em và là người khởi xướng ra phong trào Con đường Việt Nam. Nếu anh Định không được về với gia đình ngày hôm nay thì mục tiêu của Phong trào sẽ là đòi trả tự do cho anh, anh Thức và các tù nhân lương tâm khác trong năm nay.

Chúng tôi hiểu cái giá phải trả để mở ra con đường văn minh và nhân bản cho dân tộc Việt Nam là không hề rẻ đối với anh và những tù nhân lương tâm khác của chúng ta. Xin cảm ơn anh vì tất cả những gì anh đã làm.

Chúng tôi vẫn nhớ những tâm nguyện của anh:

“Vì nhu nhược, chúng ta không dám phản kháng thói hạch sách, nhũng nhiễu của lớp quan lại mới, chấp nhận dùng tiền vượt qua trở ngại. Đến khi nhìn lại, quốc nạn tham nhũng và quan liêu đã lan tràn, bất trị.

Vì nhu nhược, chúng ta che tai không dám nghe lời nói ngay thẳng, mặc nhiên dung túng sự dối trá và xu nịnh. Đến khi bừng dậy, đạo đức đã suy đồi, khó sửa.

Vì nhu nhược, chúng ta hài lòng với những gì đang có, cố tin vào sự ổn định giả tạo, đắm mình vào những lễ hội vô nghĩa liên miên. Đến khi nghĩ lại, xung quanh đã đầy dẫy ung nhọt, không còn thuốc chữa.

Vì nhu nhược, chúng ta bịt mắt trước những bước đi vũ bão của các dân tộc láng giềng. Đến khi tỉnh ngộ, sự tụt hậu quá rõ ràng, không còn cơ may rút ngắn khoảng cách.

Để che giấu mặc cảm do nhu nhược, khắp nơi người ta kể nhau nghe những bài vè châm biếm hoặc lớn tiếng dè bỉu chuyện cung đình tồi tệ, nhưng lại trong… quán nhậu! Chí khí kiểu “sĩ phu Bắc Hà” ấy liệu sẽ giúp ích được gì cho công cuộc chấn hưng đất nước đang lúc cần hào khí Diên Hồng năm xưa?

Muốn chấn hưng đất nước trong vận hội ngàn năm có một này cần phải rũ bỏ sự nhu nhược đó. Muôn người xin hãy nắm tay lại, chế ngự sự sợ hãi, cùng tiến về phía trước, may ra khát vọng Đại Việt mới có cơ may biến thành hiện thực. Xin đừng để sự nhu nhược của những cá nhân trở thành sự bạc nhược của cả một dân tộc.”

– Trích “Lê Công Định – Trả lại Hào Khí Diên Hồng” –

Ngoài gánh nặng lao tù trói buộc được tháo gỡ khỏi đời sống cá nhân, việc anh được ra tù trước thời hạn còn mang một ý nghĩa sâu sắc đến tiến trình vận động dân chủ và tôn trọng quyền con người tại Việt Nam. Đặc biệt, khi đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và Nhà nước đang lấy ý kiến Nhân dân để sửa đổi Hiến pháp, trong đó nổi bật các yêu cầu sửa chữa, các tranh luận để làm sáng tỏ về quyền con người và về điều 4 vốn dành cho ĐCSVN các lợi thế khiến gây ra những nghịch lý. Một chủ đề mà anh Định từng nêu lên trước khi bị bắt giam.

Và, khi mọi gia đình đang chuẩn bị đón Tết âm lịch với những ước vọng về một năm mới trong truyền thống văn hóa dân tộc, sự trở về của anh là niềm vui chung cho tất cả mọi người Việt Nam đang chờ đợi những thay đổi thực sự tốt đẹp cho tương lai đất nước.

Cuối cùng, trong những xúc động bồi hồi đón mừng anh về với gia đình và cuộc sống rộng rãi hơn nhà lao tù túng, chúng tôi không khỏi chạnh lòng nhớ đến người anh, người bạn, người khởi xướng đầu tiên của Phong trào – anh Trần Huỳnh Duy Thức và những tù nhân lương tâm khác còn đang chịu cảnh lao lý. Tất cả chỉ vì cái nhìn phiến diện của một nhóm người đương nhiệm đã tước mất quyền được nói lên suy nghĩ của nhiều người bằng con đường ôn hòa. Chúng ta hãy cùng nhau ước vọng cho năm 2013 sẽ là năm của Tự do và Quyền Con Người.

Chào mừng anh trở về trong vòng tay của mọi người!

TM. NKX Phong trào Con Đường Việt Nam
Lê Quốc Tuấn
06/02/2013

Luật sư Lê Công Định được trả tự do

Phiên tòa 20/1/2010 (ông Lê Công Định ở góc dưới bên phải)

Phiên tòa 20/1/2010 đã thu hút sự chú của dư luận trong nước và quốc tế

Một trong những nhân vật bất đồng chính kiến nổi tiếng ở VN, Luật sư Lê Công Định, vừa được ra tù trước thời hạn.

Thân nhân của LS Định xác nhận với BBC ông đã về nhà lúc 10:00 sáng thứ Tư 6/12 trong tình trạng “sức khỏe tốt nhưng hơi gầy”.

Ngay trưa cùng ngày, ông Định đã phải tới chính quyền địa phương để trình diện.

Ông Lê Công Định, sinh 1968, bị bắt ngày 13/6/2009 để điều tra vi phạm Điều 88 Bộ Luật hình sự, Tội Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN.

Cùng đợt với ông có ba người khác, là các ông Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung và Lê Thăng Long.

Tội danh của các ông sau bị chuyển sang thành Hoạt động lật đổ, theo Điều 79 Bộ Luật Hình sự, là tội nặng hơn.

Ngày 20/01/2010, Tòa sơ thẩm TP Hồ Chí Minh đã tuyên án từ 5 năm tới 16 năm tù giam, thêm từ 3 tới 5 năm quản chế tại gia cho các bị cáo trên, trong đó ông Lê Công Định lãnh án 5 năm tù, cộng thêm 3 năm quản chế tại gia.

Tòa phúc thẩm sau đó đã y án trên.

Như vậy, ông đã được ra tù sớm trước hạn hơn một năm.

Phiên xử gây chú ý

Vụ bắt và xét xử Lê Công Định đã thu hút sự chú ý đặc biệt của quốc tế vì ông Định có tiếng trong giới luật sư và đã từng đại diện lợi ích cho Việt Nam trong nhiều vụ kiện có yếu tố nước ngoài.

Một bị cáo khác, ông Lê Thăng Long, đã ra tù tháng 6/2012, sớm trước thời hạn 6 tháng.

LS Lê Công Định
LS Lê Công Định là người được dư luận quốc tế biết tới nhiều

Hai ông Trần Huỳnh Duy Thức và Nguyễn Tiến Trung hiện vẫn đang thực hiện án 16 năm và 7 năm tù.

Sau khi phiên sơ thẩm ngày 20/1/2010 kết thúc, giới ngoại giao phương Tây đã lập tức lên tiếng bày tỏ quan ngại.

Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP HCM lúc đó, ông Kenneth Fairfax, tuyên bố Mỹ “quan ngại sâu sắc” về các vụ bắt giữ và kết tội những người chỉ thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình.

Hoa Kỳ và nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế kêu gọi Việt Nam trả tự do cho các nhà hoạt động ngay lập tức và vô điều kiện.

Trong phiên xử, ông Lê Công Định và ba vị còn lại bị buộc tội đã cấu kết với “các thế lực phản động” trong và ngoài nước nhằm lật đổ chế độ.

Những người này cũng bị buộc tội liên quan tới Đảng Dân chủ Việt Nam, vốn không được phép hoạt động trong nước.

Ông Lê Công Định còn bị cáo buộc đã tham gia khóa huấn luyện lật đổ bất bạo động do tổ chức Việt Tân, mà Việt Nam liệt vào danh sách khủng bố, tổ chức.

Nhận tội

Luật sư Định, người bị thẩm vấn đầu tiên trong phiên sơ thẩm, đã tường trình trước tòa về phương hướng của Đảng Dân chủ Việt Nam mà ông là thành viên. Ông nói đảng này kêu gọi đa nguyên và muốn thay đổi chế độ chính trị trong nước.

”Trong quá trình học tập ở nước ngoài, tôi đã bị ảnh hưởng bởi tư tưởng phương Tây về dân chủ, tự do và nhân quyền.”

LS Lê Công Định tại phiên sơ thẩm 20/1/2010

Ông Định nói: “Tôi nhận là đã vi phạm Điều 79 (Bộ Luật Hình sự)”.

Trước đó, ngày 18/6/2009, tức chưa đầy một tuần sau khi bắt ông Lê Công Định, công an Việt Nam tổ chức họp báo công bố việc ông Định “thừa nhận hành vi phạm tội”.

Tại cuộc họp báo, báo chí trong nước đã được cung cấp hình ảnh các trang viết tay được cho là của ông Định tự khai báo, cùng một số đoạn băng hình quay cảnh ông Định đọc nội dung bản tường trình “nhận tội”.

Nhiều người ủng hộ phong trào dân chủ đã bày tỏ thất vọng trước các hình ảnh này.

Ông Lê Công Định đã hành nghề lâu năm tại TP HCM. Trước kia, với tư cách luật sư của công ty YKVN, ông đã cùng đối tác là hãng luật White & Case của Mỹ bảo vệ phía Việt Nam trong vụ kiện cá basa tại Hoa Kỳ.

Sau đó, ông tham gia bào chữa cho nhiều vụ việc bị cho là ‘nhạy cảm’, như bào chữa cho các luật sư bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân và cho blogger Điếu Cày.

Ông Định cũng từng là Phó chủ nhiệm Đoàn luật sư TP HCM nhưng sau bị xóa tên khỏi luật sư đoàn.

Luật sư Định cũng được biết tới như một cây bút viết các bài bình luận thời sự, nhiều bài đã đăng trên BBCVietnamese.com.

Tốt nghiệp Đại học Luật năm 1989, ông Định lấy bằng thạc sỹ luật tại Đại học Tulane University, Hoa Kỳ hồi 2000. Trước đó, ông có một thời gian tu nghiệp tại Pháp.

Luật sư Lê Công Định là chồng của Hoa hậu Việt Nam 1998 Nguyễn Thị Ngọc Khánh.

Nguồn BBC

Xin Giáo sư đừng IM LẶNG!

Thư gửi GS Ngô Bảo Châu, GS Đàm Thanh Sơn và cộng sự về việc ký tên Bản kiến nghị do 72 nhân sỹ, trí thức soạn thảo

Nguyễn Long Việt

20120419095754_ngobaochauDamthanhson

Kính gửi: GS Ngô Bảo Châu, GS Đàm Thanh Sơn và cộng sự,

Thực sự không phải khi phải viết nhiều thư đến các GS và các cộng sự trong dịp cuối năm bận rộn thế này. Nhưng vì, có một số sự kiện cũng mong muốn GS và các cộng sự chia sẻ.

Thứ nhất, trang Cùng viết Hiến pháp ra đời đã tạo thêm cho bạn đọc một kênh thông tin cho bạn đọc tham khảo về Hiến pháp. Tôi nghĩ, có lẽ hơi thiển cận một chút, nhưng điều này có dẫn tới việc “chia đàn, xẻ nghé” giới trí thức Việt Nam hay không?

Hiện nay, Bản Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 và Bản Hiến pháp mẫu do 72 nhân sỹ, trí thức soạn thảo, và đến nay đã có hơn 2,500 người ký tên ủng hộ.

Tôi cũng đã nghiên cứu rất kỹ, và dưới góc độ luật học, tổi đánh giá rất cao chất lượng của Bản kiến nghị và Hiến pháp mẫu này.

Hôm nọ, giáo sư Châu trả lời tôi trên trang thichhoctoan.net là trong số những người khởi xướng và biên tập trang Cùng viết Hiến pháp, “có người đồng ý, có người không”. Tôi xin được hỏi là GS có thể cho tôi biết là ai đồng ý, và ai không đồng ý được không? Nếu không đồng ý thì vì sao?

Tôi nghĩ, để làm được Bản kiến nghị và Bản Hiến pháp mẫu, 72 nhân sỹ, trí thức đã phải lao động rất miệt mài. Trong số đó, có nhiều người rất giỏi và có kinh nghiệm lâu năm như cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, GS Chu Hảo, GS Tương Lai,…

Có lẽ, vì thời gian góp ý kiến cũng không còn nhiều, nếu chúng ta cùng nhau đóng góp ý kiến dựa trên một Bản kiến nghị và Bản Hiến pháp mẫu được nhiều người ủng hộ như  vậy sẽ tốt hơn. Hơn bao giờ hết, nhân sỹ, trí thức của chúng ta nên “ngồi cùng nhau” để kiến tạo nên một bản Hiến pháp có chất lượng. Ngày xưa, các anh hùng Lương Sơn Bạc tạo được sức mạnh cũng nhờ sự hy sinh chức vị của những người thủ lĩnh mà sát nhập tạo nên 108 vị anh hùng hảo hán. Từ đó, mới có quyền “mặc cả” với chính quyền.

Trong khi, Cùng viết Hiến pháp mới khởi xướng, chưa có một chiến lược cụ thể để viết như thế nào, viết ra sao? Ai viết?… bao giờ thì “cùng viết Hiến pháp” sẽ viết xong một bản Hiến pháp mẫu…

Hôm nay, tôi xem video của 15 người đại diện trao bản kiến nghị tới Ban Biên tập sửa đổi HP trên trang Ba Sàm. Bác Phạm Duy Hiển phát biểu rằng, nhóm nhân sỹ, trí thức đang muốn nghe những lời cho rằng bản kiến nghị là sai.

Do vậy, tôi hy vọng rằng những ý kiến không đồng ý, và việc chỉ ra những khuyến khuyết của những người khởi xướng và ban Biên tập trang Cùng viết Hiến pháp đối với Bản kiến nghị và Hiến pháp mẫu của 72 nhân sỹ, trí thức sẽ thật sự có ý nghĩa.

Thứ nhất, giúp nâng cao chất lượng của bản Kiến nghị và Hiến pháp mẫu này. Thứ hai, những người soạn thảo các văn bản này cũng sẽ rút kinh nghiệm và học hỏi được những điều rất bổ ích từ các đóng góp.

Tôi cũng có khá nhiều năm nghiên cứu luật học. Khi đọc Bản kiến nghị, đặc biệt là Bản Hiến pháp mẫu, tôi thấy rằng, nếu đặt lên bàn cân, Bản Hiến pháp này không thua kém gì so với các bản Hiến pháp của nhiều nước dân chủ trên thế giới như Mỹ, Pháp, Đức…

Tôi rất hy vọng các thành viên thành lập trang Cùng viết Hiến pháp chỉ ra những sai sót trong các bản kiến nghị này, và đây cũng là cơ hội để tôi học hỏi thêm.

Một việc nữa, tôi vào mạng đọc báo, thấy một số ý kiến, (tuy không thiện cảm lắm, nhưng tôi cũng rất thẳng thắn để chia sẻ), cho rằng “Giáo sư Ngô Bảo Châu đã không làm thì thôi, đã làm là phải làm trưởng”.

Tôi cũng không thực sự bị thuyết phục bởi quan điểm đó nhưng người ta nhìn những gì đang diễn ra, người ta có thể nghi ngờ.

Tôi thì cho rằng có rất nhiều người dành tình cảm lớn cho GS, nên việc GS khởi xướng sẽ thu hút được đông đảo trí thức, đặc biệt là trí thức trẻ tham gia, đó là một diễn đàn rất tốt để chia sẻ, trao đổi thông tin.

Tôi chỉ có một điều là, xin GS đừng IM LẶNG. Xin viện dẫn câu nói rất hay của trí thức Nguyễn Trường Tộ: “Biết không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa”.

Từ khi trang Cùng viết Hiến pháp ra đời, tôi chưa thấy một bài nào thể hiện quan điểm của GS (Chẳng hạn như Hiến pháp phải thế này, thế kia, tôi đồng ý hay phản đối việc không quy định điều 4, lý do như thế này…).

Tôi xin lấy một ví dụ. Ông A rất giỏi về ngoại giao, đã giàn xếp thành công tranh chấp biển Đông, và Trung Quốc đã trả Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam. A được trao giải Nobel. Nhà nước mở ra chương trình ra đề thi toán. Ông A khởi xướng và ngồi trong ban Biên tập. Và bài nào mà ông A thấy hay, sẽ cho đăng. Như vậy, người gửi có quyền đặt câu hỏi về hiểu biết của ông A hay không?

Ví dụ trên có giống với cách mà GS đang đối xử với những người nghiên cứu luật học hay không?

Một vấn đề khác là, tuy lời mở đầu của trang là “nhằm tạo thêm một không gian đối thoại”, nhưng trên các bài viết không có chỗ để bạn đọc có thể tranh luận với nhau hay với tác giả… Và có lẽ, việc gửi tranh luận lại phải gửi mail cho trang, như vậy cũng tạo ra không ít khó khăn cho cả bạn đọc và ban Biên tập, cũng như mất tính cập nhật.

Thay cho lời kết,

Với những kinh nghiệm trong nghiên cứu, học tập, sinh tại các quốc gia tiên tiến, các Giáo sư Châu và Giáo sư Sơn chắc chắn có những ý kiến nhất định cho đợt sửa đổi Hiến pháp lần này. 125

Tôi chỉ mong các thành viên thành lập trang Cùng viết Hiến pháp, đặc biệt là Giáo sư Châu và Giáo sư Sơn cho tôi cũng như các bạn trẻ biết được là các Giáo sư có đồng ý với Bản kiến nghị và Hiến pháp mẫu do 72 nhân sỹ trí thức khởi xướng hay không? Nếu không đồng ý thì lý do là gì? Nếu đồng ý, thì các Giáo sư đang và sẽ ký tên? (Bởi tôi nghĩ, thời gian rất có hạn).

Nhiều người cho rằng, các GS chỉ giỏi về lĩnh vực nghiên cứu các lĩnh vực tự nhiên như Toán, Lý nhưng tôi nghĩ rằng đến người nông dân, công nhân còn đọc hiểu được những bản Kiến nghị đó có lợi cho dân tộc, chả lẽ với kinh nghiệm sống ở nhiều nước tiên tiến lại không thể đưa ra những ý kiến riêng cho mình?

Nếu 2000 người ký, thì nhà chức trách có thể không trả lời (theo tiền lệ nên tôi mạo muội đoán) nhưng giả sử 1 triệu người ký thì là một chuyện khác. Nhà chức trách sẽ phải lắng nghe bởi các áp lực không chỉ trong nước, mà còn cả dư luận thế giới. Mà các GS là những nhân tố rất quan trọng, là những người có thể thức tỉnh giới trẻ Việt Nam, hiện phần lớn đang ngủ quên trên những kênh giải trí…

Nhân tiện, tôi cũng kêu gọi bạn đọc phổ biến Bản kiến nghị và Hiến pháp mẫu cho càng nhiều người càng tốt, để ký tên tạo nên sức mạnh. Có như vậy, mới hy vọng vào một tương lai tốt đẹp, mới không bị các nước trên thế giới, chí ít là các quốc gia láng giềng bỏ xa. Dân ta phải đi làm thuê cho các nước, dưới cái tên “xuất khẩu lao động” nhưng đó là một nỗi buồn của toàn dân tộc Việt.

Người Việt chịu khó, tiết kiệm. Người Việt ra nước ngoài lập nghiệp thì 90% là tay trắng. Trong khi, ở trong nước, bởi người lãnh đạo không thông qua tranh cử dân chủ, mà qua cơ cấu, nên không tìm ra được người có tài và có tâm giúp ích cho đất nước. Tôi không cần lãnh đạo có bằng Giáo sư hay Tiến sĩ mà cái tôi cần là chính sách, là anh làm được điều gì cho người dân. Đôi khi, tài mà không bị ràng buộc thì người ta lại sử dụng tài đó để làm lợi cá nhân.

Do vậy, chúng ta cần phải xây dựng một bản Hiến pháp giới hạn quyền lực nhà nước, tránh lạm quyền, tham nhũng. Điều quyết định nên việc thành công của sửa đổi Hiến pháp lần này là Điều 4. Nếu không bỏ được Điều 4 là một thất bại, như tôi từng nói trong bài Điều 4 mới là vấn đề của mọi vấn đề.

Với việc quy định Điều 4, những người trong Đảng Cộng sản VN đang “bôi xấu” hình ảnh của những chiến sỹ Cộng sản chân chính. Cụ tôi từng là Đảng viên 1930/1931. Ngày xưa, Đảng Cộng sản phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc thì người dân theo, và trong thời kỳ đó, có sự cạnh tranh đa đảng. Nhưng bây giờ, nếu Đảng Cộng sản không còn những người như thế nữa thì phải nhường chỗ cho người khác lãnh đạo.

Tại sao anh đòi giữ điều 4 để lãnh đạo? Có phải anh vào Đảng là trở thành tinh hoa như những người chiến sỹ cộng sản xưa đâu? Tại sao anh không dựa vào chính anh, mà phải dựa vào công lao của những người đi trước để bắt người ta phải phục tùng? Tại sao anh vào cùng “hội” với cụ tôi thì anh tước quyền tranh cử, ứng cử của 87 triệu dân khác?

Lý sự như anh, tôi có thể đưa ra lập luận là cụ tôi sáng suốt, hơn nữa tôi là con cháu của anh hùng Nguyễn Huệ. Chả nhẽ, tôi nhân danh Nguyễn Huệ để bảo là ông ấy sáng suốt, nên con cháu cũng sẽ là đỉnh cao trí tuệ? Tôi lý sự, tôi được thừa hưởng truyền thống, yêu nước, thông minh sáng suốt như Nguyễn Huệ, nên tôi phải là lãnh đạo của Việt Nam? Nếu tôi làm thế, có phải là tôi đang lợi dụng, chà đạp lên hình ảnh của người khác để hưởng lợi hay không?

Do vậy, như tôi đã bàn trong “Thư gửi hai GS Ngô Bảo Châu và Đàm Thanh Sơn” đăng trên trang Quê Choa ( http://quechoa.vn/2013/02/03/thu-gui-hai-gs-ngo-bao-chau-va-dam-thanh-son/), Khoan bàn về đúng sai của lịch sử, cứ cho là Đảng CSVN lãnh đạo từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhưng hồi xưa có các đảng khác cạnh tranh, và vì hồi xưa có cụ Hồ trong đảng CSVN. Nhưng có phải lúc nào cũng có cụ Hồ đâu? Đến giờ, không có cụ Hồ trong đảng nữa (mà chỉ có đồng chí X, Y chẳng hạn) thì phải mở rộng cho toàn thể nhân dân ứng cử, bầu cử để tìm lấy cụ Hồ?

Việt Nam có đặc thù riêng?

Chỉ có thể trở thành lãnh đạo Việt Nam từ 3 triệu đảng viên? Trong số khoảng 87 triệu dân chả lẽ không ai xứng đáng làm lãnh đạo? (ngay cả làm chủ tịch xã, huyện?). 87 triệu dân không là đảng viên vô dụng đến thế sao?

Qua sự kiện, con trai Nguyễn Bá Thanh lên làm Bí thư thành đoàn. Với số phiếu 100%. Tôi cũng chưa thấy ở quốc gia dân chủ nào như Tây Âu, Mỹ có được 100% phiếu bầu ủng hộ như vậy, mà nó chỉ xuất hiện tại các quốc gia mà kết quả được sắp xếp sẵn. Tôi không biết là con trai Nguyễn Bá Thanh giỏi thế nào?

Nhưng cái mà người dân mong muốn ở người lãnh đạo là, trước khi ra ứng cử anh phải đưa ra được kế hoạch, kế sách gì…?

Và đã gọi là bầu cử thì phải từ 2 ứng viên trở lên, chứ không phải là giới thiệu 1 và bầu 1. Trong luật học, đó không phải là bầu cử, mà là “phê chuẩn”. Rộng hơn, Quốc Hội từ trước đến này đang “phê chuẩn” các chức danh từ Chủ tịch nước, Thủ tướng…

Là người dân, chúng ta có quyền nghi ngờ rằng có một thế hệ Thái tử Đảng đang hình thành.

Mọi chế độ độc tài, dù một cá nhân hay một nhóm thì cũng sẽ bị thay thế bằng một thể chế dân chủ. Thế giới từ Âu, Á, Phi… đã trải qua.

Việt Nam sẽ không là ngoại lệ nếu việc sửa đổi Hiến pháp lần này không bỏ được Điều 4. Đánh mất một cơ hội chuyển giao trong hòa bình từ độc tài (độc đảng sinh ra độc tài) sang dân chủ đa đảng thì sẽ phải chuyển giao bằng bạo lực. Nhưng ở Việt Nam, phải chuẩn bị có thể là hàng trăm “ống cống”, chứ không phải chỉ có một như ở Lybia cho riêng Gaddafi. Có thể, sẽ đau thương hơn nhiều, tôi không muốn đau thương thêm một lần nữa tại Việt Nam.

Đáng lẽ ra, tôi gửi riêng cho các Giáo sư và các cộng sự nhưng tôi nghĩ, cũng có nhiều bạn đọc có những trăn trở giống như tôi, với lại công lý không thể được thực thi trong bóng tối nên tôi xin phép được công bố với bạn đọc.

Xin chân thành cảm ơn các thành viên thành lập trang Cùng viết Hiến pháp.

Chúng ta cùng đoàn kết, tất cả vì tương lai Việt Nam,

Chúc mừng năm mới,

Nguyễn Long Việt

Tác giả gửi QueChoa

Tại sao Phạm Duy “dinh tê” về Hà Nội (tiếp theo)

Tại sao Phạm Duy “dinh tê” về Hà Nội?hạm Duy ở chiến khu

Phạm Duy “dinh tê” về Hà Nội?hạm Duy ở chiến khu

CHƯƠNG 34

Một hôm Phạm Đình Viêm đang ngồi ở trong Quán Thăng Long thì có một cán bộ đi xe đạp từ đàng xa tới, đậu xe lại, bước vào quán và nói:

– Tôi có gặp một ông già cùng đi với một cô con gái ở cách đây bẩy tám cây số gì đó. Họ biết tôi sẽ qua Chợ Neo nên nhờ tôi nói dùm với ông bà chủ quán Thăng Long là họ đang trên con đường về.

Thế là Phạm Đình Viêm bôn bả cưỡi xe đạp đi đón chúng tôi. Nhưng không gặp. Chúng tôi về tới Quán Thăng Long thì chỉ thấy có một mình bà Thăng Long đang ngẩn ngơ đứng đó. Hai mẹ con ôm nhau khóc oà. Tôi ngạc nhiên vì không thấy ông Thăng Long đâu cả. Trong sáu tháng vừa qua, ở nhà ra đi lên sống ở Việt Bắc rồi là chúng tôi không có một tí liên lạc nào với gia đình ở Chợ Neo cả. Xin được thưa với tất cả các dân tộc ở trên thế giới rằng: trong những năm kháng chiến, 90 phần trăm người dân Việt thoát ly gia đình để đi làm nhiệm vụ công dân. Dù trong quân đội và các cơ quan dân chính có những tổ chức bưu điện được gọi là “hòm thư” (sau này mới có cái tên “khu bưu chính”, viết tắt là KBC) nhưng thư đi thư lại ở trong nước thật là ít ỏi. Tôi nhớ rất rõ ràng là trong bẩy năm kháng chiến, tôi không hề gửi đi hay nhận được một lá thư nào cả. Và tôi không phải là người độc nhất ở trong hoàn cảnh đó. Dân tộc này phải can đảm đến độ nào mới có thể chấp nhận một sự “biệt vô âm tín” lạ lùng giữa những người thân trong gia đình như vậy. Ông Thăng Long vào Hà Nội từ mấy tháng nay rồi. Chúng tôi đâu có biết? Gia đình này đã khánh kiệt. Bố vợ tôi phải vào thành phố để vay mượn tiền nơi bạn bè, đem ra vùng kháng chiến tiếp tế cho gia đình.

Phạm Đình Viêm phóng xe đi tìm vợ chồng tôi không thấy, quay xe trở về quán. Chúng tôi nhìn nhau cười như nắc nẻ. Anh cán bộ nói không sai: Tôi mới có 30 tuổi mà trông đúng là một ông già rồi. Sau khi cất ba lô, rửa mặt, thay quần áo, Thái Hằng chui ngay vào giường nằm. Tôi ra ngồi uống một ly cà phê, ăn một tô phở và hàn huyên, tâm sự cùng mẹ vợ và anh vợ…

“… Con đường về vất vả hơn con đường đi nhiều. Vượt khỏi được con dốc Tam Đảo là gặp những cơn mưa tầm tã. Hai vợ chồng ôm nhau đi trên những con đường bùn ngập tới cổ chân. Có những lúc Thái Hằng mệt quá, ngồi bệt xuống đường khóc. Tôi đi trước vài bước, thấy thế tôi quay gót lại, nâng vợ dậy, dìu đi và vừa đi vừa kể cho nghe những chuyện tiếu lâm của bố tôi là Thọ An, Phạm Duy Tốn. Chuyện rất tục và cái tục làm cho người nghe quên khổ, quên mệt trên đường dài. Tuy vậy, Thái Hằng vẫn còn lo lắng vì được ai đó nói cho biết rằng: có nhiều người mang thai đi công tác, vì đeo ba lô quá nặng và đi bộ quá nhiều cho nên đã đẻ non ở dọc đường. Nếu chuyện đó xẩy ra cho vợ tôi thì nguy to. Thấy vợ lo ngại nhiều quá, tôi lại phải luôn luôn nâng tinh thần vợ lên. Xách đỡ ba lô, vẽ ra niềm hạnh phúc khi đứa bé ra đời và… tiếp tục kể cho vợ nghe thêm những chuyện tiếu lâm khác. Có một hôm chúng tôi tới một nơi không có nhà trọ, tối đến phải ra nằm ngủ trên bờ suối, nửa đêm có mưa đổ xuống như trút nước, nước suối dâng cao, tôi phải đặt vợ với cái bụng chửa nằm lên trên ngực tôi để cho người đang có thai không bị dầm mình trong nước lạnh. Lại có một hôm tình cờ gặp một đoàn tù binh Pháp đang được dẫn đi ở giữa rừng, nằm ngủ cách đám tù binh Pháp không xa, suốt đêm phải nghe tiếng ho xù xụ của những tù binh — có lẽ đang mắc phải bệnh lao — chúng tôi mất ngủ luôn… “

Đó là câu chuyện “phiêu lưu” rất vắn tắt mà tôi kể cho mẹ vợ và anh vợ nghe trong ngày đầu tiên về tới Chợ Neo, với kết luận là chỉ có phép lạ mới cứu cho vợ tôi không bị xẩy thai mà thôi. Tôi nấn ná ở nhà vài hôm rồi mới đi gặp Đặng Thái Mai, Nguyễn Đức Quỳnh. Lúc này tôi không còn là cán bộ văn nghệ của Trung Ương hay của Trung Đoàn hay Sư Đoàn nào cả mà chỉ là một “thường dân hạng nhì” đi thăm các người bạn bực đàn anh. Tôi tránh né không nói gì tới chuyện đã qua ở trên Việt Bắc. Rồi tôi về nhà, trong một tuần trăng, không làm gì cả, ngồi chờ vợ đẻ. Thái Hằng có mang đã tới tháng thứ tám. Được mẹ săn sóc kỹ lưỡng, có ngày được ăn tới ba bát phở (của thùng phở ế khách), vợ tôi đã béo tốt ra, cái bụng đã to phềnh lên. Chúng tôi lại được sống những ngày rất êm ả dưới mái nhà tranh bên dòng sông máng.
Ông Thăng Long từ Hà Nội trở ra Chợ Neo. Mừng mừng tủi tủi khi gặp lại bố vợ nhưng tôi buồn vô hạn khi ông Thăng Long cho biết mẹ tôi vừa qua đời trên một tháng nay tại Hà Nội và ông có đi dự đám tang. Mẹ tôi vĩnh biệt cuộc đời vào lúc chúng tôi đang sửa soạn từ giã khu rừng Yên Giã để về suôi. Bây giờ thì tôi nhớ lại rồi. Có một đêm, tôi đang đứng chơi ở trước ngôi nhà nứa trong khu rừng vắng thì nghe tiếng cú kêu. Bấm đốt ngón tay thì thấy đó là ngày mẹ tôi giã từ cuộc đời. Cái chết của mẹ tôi có thể làm cho tôi đau khổ rất lâu nếu chúng tôi không có một sự sống là đứa con đang sắp sửa ra đời. Vừa mất mẹ thì có con ngay. Nỗi buồn đang nằm đó được niềm vui bước tới che đi. Đời tôi quả là may mắn vì gặp được những sự bù đắp không ngừng. Ngày tôi lấy vợ, cách đây hơn một năm, tôi chỉ mong sao mẹ tôi biết được tin mừng nhưng tôi không có cách nào để đưa tin cho mẹ được.

Nay ông bố vợ về Hà Nội và gặp mẹ tôi trước khi mẹ tôi mất. Mẹ tôi đã biết tin tôi lấy vợ. Mẹ tôi nói: “Nó lấy được con gái ông bà là tốt lắm đấy.” Trong kháng chiến có biết bao nhiêu gia đình bặt tin nhau, cha mẹ chết đi, vài ba năm sau con cháu mới biết. Con cái thành vợ thành chồng, có cháu đầu lòng mà có khi cha mẹ không biết. Tôi tự an ủi là mình có phúc. Bố vợ còn đem ra cho tôi thêm một niềm an ủi khác nữa: một số bài hát kháng chiến của tôi được ấn hành ở trong thành. Một nhà xuất bản trao tiền tác giả cho mẹ tôi. Tôi coi đó là một sự báo hiếu của tôi, rất nhỏ nhoi nhưng rất cần thiết.

Mừng hơn nữa là bố vợ cũng mang ra cho tôi một số tiền tác giả của một nhà xuất bản khác. Tôi có đủ tiền để chi phí cho việc hộ sinh và việc nuôi đứa con đầu lòng nay mai, khỏi cần phải vay mượn hay nhờ vả chính quyền. Vả tới mãi bây giờ mới có thể sắm một cái nhẫn cưới cho vợ.

Mùa Đông năm 1950, vợ tôi đẻ. Nhà hộ sinh ở ngay bên kia bờ sông máng. Người đỡ đẻ là bà đỡ Ninh, từ Hà Nội tản cư ra đây, mang theo đầy đủ đồ nghề. Từ Việt Bắc, vợ tôi mang được cái bụng chửa về tới Chợ Neo để đẻ, đó là phúc bẩy mươi đời cho gia đình tôi vậy. Vì sao? Vì đẻ con so cho nên đẻ khó, phải có hai người dùng “forcep” mới gắp được đứa bé ra. Nếu đẻ ở dọc đường thì làm gì có bà đỡ Ninh và dụng cụ đỡ đẻ như bây giờ? Đứa bé không ra khỏi bụng mẹ được sẽ bị nghẹt thở, chết cả con lẫn mẹ. Và chắc gì tôi có thể sống nổi nếu chuyện đó xẩy ra? Đứa bé ra đời nặng 3 ký, được đặt tên là Quảng. Trong cái tên của vợ tôi, Phạm Thị Quang Thái, có chữ đệm là “Quang”. Ông bố vợ đề nghị nên lấy tên đệm của mẹ mà đặt tên cho con. Nhưng một trong các vị tổ tiên của tôi đã mang cái tên là Quang rồi. Cần phải “kiêng tên”, chúng tôi bèn cho thêm dấu hỏi vào tên đứa bé. Nhưng khi di cư vào miền Nam, phải làm lại giấy khai sinh cho đứa bé thì không hiểu tại sao cái dấu hỏi đó lại bị mất đi?

Tôi và Thái Hằng không còn là nhân viên của đoàn văn nghệ quân đội nữa. Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Băng Thanh (tức Thái Thanh) tuy vẫn còn là nghệ sĩ ở trong quân đội nhưng không phải đi công tác luôn luôn như ngày trước. Họ ở nhà nhiều hơn là ở trong cơ quan. Cũng như bất cứ một người cha nào, tôi vui thú với đứa con trai đầu lòng, ngày đêm ôm ấp nó. Cả gia đình cũng đều vui vì đây là lần đầu tiên có trẻ thơ ở trong nhà. Mọi người tranh nhau bế thằng nhỏ. Đứa bé vừa ra chào đời là nhận được đầy đủ mọi thứ tình yêu đến từ ông bà, cha mẹ, bác, cậu và gì… Trong khi đất nước vẫn còn trong thời kỳ chiến tranh, biết bao nhiêu gia đình bị lâm vào cảnh ly tán, được sống như chúng tôi vào những ngày tháng này cũng là điều may mắn. Nghĩ như vậy cũng là để luôn luôn tự an ủi trong thời gian có sự dằn vặt trong lòng.

Trong một năm vừa qua, vì quá bận bịu trong hai chuyến đi đi về về giữa Việt Bắc và Thanh Hoá, tôi không có một tí ti sáng tác nào cả. Vả lại, tôi cũng không gặp một đề tài hay ho nào, chỉ gặp toàn những chuyện chính trị thuần túy mà tôi không thích.

Tình hình chiến tranh sôi sục hơn trước. Pháp mở nhiều chiến dịch ở vùng trung du. Nhưng dù có gửi danh tướng De Tassigny qua Đông Dương để đưa ra những chiến lược, chiến thuật mới thì Pháp cũng không thể chuyển bại thành thắng được.

Bây giờ đang có một phong trào lớn là “dân công”, một chế độ lao công bắt buộc mà toàn thể dân chúng phải theo. Những chiến dịch lớn đòi hỏi sự tiếp tế thường xuyên về vũ khí cũng như về lương thực. Một mặt, tất cả đường xá ở trong nước đã bị phá hủy, mặt khác Việt Minh không có những đoàn xe vận tải, bây giờ phải dùng tới nhân lực. Ngoài những người làm việc ở trong các cơ quan, chính phủ ra lệnh xung công tất cả nhân dân để làm công việc chuyên chở lương thực và vũ khí này. Ai cũng phải làm nhiệm vụ dân công hết, chỉ trừ người già và em bé. Lúc đó vợ chồng tôi là “phó thường dân”, không còn làm việc cho bất cứ một cơ quan công quyền nào cả, trên nguyên tắc chúng tôi phải đi dân công. Nhưng chúng tôi xin được đóng tiền để cho ban dân công địa phương thuê người khác đi thay thế. Đó là chuyện hợp pháp chứ không phải tham nhũng, hối lộ gì đâu. Đi dân công như vậy, mỗi người dân phải chuyên chở 15 ký gạo, mỗi đêm đi từ 15 tới 30 cây số. Hoặc là gánh gồng, hoặc là thồ bằng xe đạp. Có những vùng, các đoàn dân công đi ban ngày. Có những vùng, để tránh nạn máy bay tới bắn phá, ban ngày nằm nghỉ, tối đến là đoàn dân công ríu rít lên đường. Hàng vạn dân công ra đi, cứ cách 5 hay 10 người lại có một người cầm đèn để soi đường, ở xa trông như một con rồng vĩ đại đang uốn khúc.

Ngồi bế con ở trong Quán Thăng Long, tôi thấy hàng ngàn, hàng vạn dân công kĩu kịt gánh thóc đi qua. Dù lúc này tôi không còn là một cán bộ văn nghệ nữa và dù cả đại gia đình này đang trong tình trạng thiếu hụt gạo ăn, nhưng trước cảnh hi sinh vô cùng lớn lao của người dân quê Việt Nam, tôi cũng có đủ cảm hứng để hát lên cảnh say thóc, giã gạo, gánh lúa nuôi dân… qua một bài “dân ca mới” có nhịp điệu rất vui:

Mênh mông mênh mông sóng lúa mênh mông
Lúc trời mà rạng đông ư rạng đông.
Bóng người thấp thoáng cuối đường thanh vắng
Bước đều mà quang gánh ư nặng vai…
. . . . . . . . . . . .
Đêm qua trăng mơ sáng khắp thôn quê
Hỡi chàng mà chàng ơi, chàng ơi.
Có nàng gánh lúa quyến tròn thương nhớ
Thương chàng mà dãi nắng dầm mưa.
Đêm qua trăng mơ thức suốt canh khuya
Hỡi chàng mà chàng ơi, chàng ơi.
Sớm ngày mai tới, thóc vàng cơm mới
Đi nuôi dân gánh một thành hai.
. . . . . . . . . .
Gánh gánh gánh, gánh thóc về
Gánh gánh gánh, gánh thóc về
Gánh thóc về. Gánh thóc về.
Gánh về. Gánh về
Gánh về. Gánh về…
. . . . . . . . .
Đầu óc đang bị trói vào ưu tư phiền muộn nhưng trong lòng thì lại phơi phới hân hoan vì thấy mình vẫn tìm ra cái đep trong kháng chiến và vẫn có thể hát cái đẹp đó lên được. Tôi lại muốn tung cánh ra đi. Nhưng vào thời điểm cuối Đông Xuân 1950-51 và tại địa điểm Chợ Neo này, tôi không còn là một người hoàn toàn tự do như trước nữa. Con chuồn chuồn rụng mất đôi cánh rồi. Nó đâu còn có thể: khi vui nó đậu khi buồn nó bay được nữa? Tôi vừa có một gia đình nhỏ nhưng lại có thêm một bổn phận lớn. Lúc còn ở Việt Bắc, vào “giây phút của sự thực”, với quyết định ưu ái của cái mà anh Nguyễn Xuân Khoát gọi là Đoàn Thể, tôi cũng đã cân nhắc rất kỹ lưỡng khi thấy mình đứng giữa hai trách nhiệm.

Trách nhiệm nào cũng xứng đáng để mình ôm chặt lấy.

– Trách nhiệm đối với dân tộc ư?

Tôi tự thấy không cần phải gia nhập một đảng phái nào dù đó là một đảng đang nắm chính quyền, không cần phải đi ngoại quU³ốc, không cần được tuyên dương công trạng mà tôi vẫn có thể làm việc cho quê hương, dân tộc. Lúc nào, ở đâu và trong mọi trạng huống, tôi vẫn có thể soạn ra những bài hát tỏ tình với người dân hay viết ra những bài hát xưng tụng quê hương, đất nước.

-Trách nhiệm đối với vợ con à?

Tôi đã có dịp cho thấy tôi không coi chuyện chính trị hơn vợ con. Tôi đã từ chối không đi ngoại quốc để ở lại với người vợ đang có thai, rồi cũng từ chối luôn một địa vị nào đó ở Trung Ương để đưa vợ về Chợ Neo sinh con đẻ cái, mẹ tròn con vuông. Cũng như đối với mọi người trên thế gian này, trách nhiệm đó chỉ chấm dứt khi tôi chết. Tôi đã từng quan niệm sự tự do của con người quan trọng như sự tự do của đất nước. Bây giờ, tôi có thêm quan niệm về trách niệm đối với gia đình và quốc gia: Trách nhiệm ngang nhau. Giản dị là như vậy.

Đã nói qua tới những vấn đề rất lý tưởng, xin quay về với chuyện la đà trên mặt đất là cuộc sống hằng ngày. Tôi không còn làm việc với bất cứ một cơ quan nào nữa rồi, có nghĩa là tôi “ngồi chơi sơi nước” trong gần một năm. Tướng Nguyễn Sơn ra đi là tôi trở thành một người bị bỏ quên ở Chợ Neo. Vị Tư Lệnh hiện nay ở Liên Khu IV này là Hoàng Minh Thảo và U±y viên chính trị Trần Văn Quang không phải là những người biết dùng văn nghệ sĩ. Ông Đặng Thái Mai là người hiểu biết thì ông không có được sự cởi mở dễ dàng như Nguyễn Sơn để thu hút văn nghệ sĩ. Tất cả như đã bỏ rơi tôi. Hoặc chờ tôi tới với họ. Khốn nỗi tôi thuộc vào hạng “quân tử Tầu” nên không bao giờ tôi xin ân huệ ở ai hết.
Có thể nước Việt Nam kháng chiến vào lúc này không còn là của “toàn dân” như trong những khẩu hiệu nữa, mà vào nằm gọn trong tay của một tổ chức, của một nhóm người rồi. Cũng cần phải nói ngay ra ở đây là tôi không có gì là phiền hà vì điều đó cả, bởi chưng trên quả điạ cầu bé nhỏ này, có nước nào mà không nằm trong một tổ chức đâu?

Hoặc trong 4 năm, hoặc trong 10 năm, hoặc trong cả 100 năm. Tôi chỉ muốn nói rằng vào lúc tôi từ khước mọi ràng buộc với “tổ chức” để sống với gia đình thì tôi cảm thấy có sự lạnh nhạt của tổ chức đó trong lối đối xử với tôi. Lại còn có sự phao tin tôi bất mãn vì “không được đi ngoại quốc” (!) và Nguyễn Đình Thi đã được chọn để nhân danh Hội Nhạc Sĩ đi dự Hội Nghị Thanh Niên ở Berlin. Lúc tôi còn ở Yên Giã ai cũng tin rằng tôi là người có đủ tư cách để đi dự hội nghị này. Thực ra thì tôi đâu có màng tới chuyện đó? Cho tôi đi Moscou mà tôi còn không ham, huống gì Berlin?

Vào đầu mùa Hạ năm 1951 này, đời tôi đã rẽ qua một nẻo khác rồi. Trước đây, sống một thân một mình, tôi chẳng bao giờ quan tâm tới tiền nong hay lương lậu, hũ gạo hay lọ nước mắm. Cũng như mọi người độc thân khác, tôi chỉ sống với một cái ba lô ở trên lưng. Nay thì khác, không phải là hai cái ba lô ở trên lưng mà là hai mạng sống. Kể từ ngày tôi bỏ nhà ra đi, tự lập thân, đổ mồ hôi ra để sinh sống, lúc nào tôi cũng rất phong lưu dù đời sống của tôi chỉ là của một cậu giáo viên, một anh nông dân hay một chú công nhân tối tăm và vô danh. Đến khi tôi trở thành ca sĩ hát rong và nổi danh ở tiền trường thì tôi phong lưu hơn nhiều. Bây giờ thì sao? Chẳng gì mình cũng là người đã có thành tích công tác — tuy thành tích cũng chẳng có gì là ghê gớm cả — nhưng đáng lẽ ra tôi không nên bị lâm vào cảnh khó khăn như thế này.

Bước vào tuổi 30, tôi vẫn chưa mất đi cái tính “bất cần đời” của thời niên thiếu. Kháng chiến còn giúp tôi hiên ngang hơn trước là đàng khác. Do đó, ở vào cái tuổi “tam thập nhi lập” này, trong khi đại đa số các bạn bè của tôi, vì hoàn cảnh riêng của từng người, có thể họ không dám phản ứng mạnh trước những trói buộc của tình thế thì trái lại, tôi không bao giờ chịu thua hoàn cảnh cả. Tôi đã có đủ nghị lực để từ chối những ân huệ thì tôi cũng có đủ can đảm để tung hê, để quẳng đi những hư danh hay hư lợi nào đó. Không có gì trói buộc được tôi, dù là ân sủng, dù là lạnh nhạt, dù là tình yêu hay hận thù. Tôi là một nghệ sĩ. Tôi yêu chuộng tự do. Tôi đòi hỏi một sự đãi ngộ xứng đáng đối với một nghệ sĩ độc lập.

Sống với một tâm trạng có phảng phất hoài nghi và buồn bã, nhưng cũng với quá nhiều mệt mỏi vì đời sống vật chất hằng ngày, đã có những lúc tôi cần phải “siêu hoá” đời mình. Tôi ngồi soạn lời ca tiếng Việt cho rất nhiều bài nhạc cổ điển trong đó có bài Rêverie của Schumann mà tôi rất thích. Khi soạn lời Việt cho bài này, tôi mường tưởng nhạc sĩ người Đức kia đã nhìn những chòm sao để mà mơ mộng. Tôi bèn chơi chữ: vòm sao – vì sao – dù sao – mà sao:
Chiều rơi từ nơi nào xa vắng cũ

Bóng đêm về đó, trời sầu tưởng nhớ
Và lòng nặng mong chờ.
Ngồi im nhìn lên vườn sao lấp ló
Có muôn ngàn sao lững lờ
Có ai run trong xa mờ.
. . . . . . . . . . . . . . . . .
Vì sao lìa nhau để theo kiếp số?
Cách xa nhiều quá
Nhờ đêm chiếu cho thêm mịt mù.
Dù sao người trên trời cao vẫn nhớ
Biết duyên bạc số
Mà sao vẫn chưa quên tình hờ?
Đột nhiên hạt sao rụng như cánh lá
Thấy tinh cầu ngã
Tưởng là người cũ, là người của mong chờ.
Tình ta hoà theo vệt sao bỡ ngỡ
Tới nơi mơ hồ có một trời hoa
Suốt một đời mơ ước thành tình ta…

Siêu hoá bằng cách nhìn lên trời sao để soạn lời cho bài hát Mơ Mòng… Từ đó, tôi liên tưởng tới ngôi sao trên lá cờ Việt Minh. Tháng sau là tháng 5 và sắp tới cái ngày được coi là sinh nhật của ông Hồ. Để nhớ lại những huyền thoại khi tôi nghĩ về những người như ông lúc tôi còn thơ ấu, nhớ lại những rung động lúc tôi gặp ông một lần ở Hà Nội và một lần ở Việt Bắc — nhớ lại một lần cuối cùng chăng? — tôi soạn ra một bài hát nhan đề A³nh Sáng Hồ Chí Minh:
Ngày mười chín tháng năm, sáng tưng bừng

Trời Việt… (quên)
A³nh Sáng Hồ Chí Minh
Đôi mắt người dìu dắt dân mình.
A³nh sáng bừng khắp nơi

Tôi định hát bài này vào ngày 19 tháng 5 nhưng tôi và cả đại gia đình “dinh tê” vào ngày mùng 1 tháng 5 năm mất rồi.
Thời gian cứ trôi dần. Số tiền tác quyền mà bố vợ đem từ Hà Nội ra cho tôi nay đã gần cạn. Quán Thăng Long đã êm đềm đóng cửa vì vắng khách hoàn toàn. Cũng như tiểu gia đình của tôi, đại gia đình của bố mẹ vợ tôi cũng ăn gần hết số tiền ông Thăng Long vay được ở những bạn bè trong thành phố. Từ một nơi nào đó ở Việt Bắc, hai vợ chồng Phạm Đình Sỹ, Kiều Hạnh cùng với hai con gái là Mai Hương, Bạch Tuyết và một con trai tên là Lan Sơn cũng đã lặn lội về tới Chợ Neo. Phạm Đình Sỹ là con trai thứ hai của bố vợ tôi, trước đây là một công chức của Sở Quan Thuế Đà Nẵng, ra với kháng chiến thì phục vụ tại một cơ quan nào đó ở Việt Bắc. Chị Kiều Hạnh lúc còn ở Hà Nội là một nữ diễn điêu luyện của ngành Kịch Nói trong đoàn kịch Hoa Lan. Khi chị chạy ra với kháng chiến, có lần chị đã định gia nhập Đoàn Văn Nghệ Giải Phóng của Phạm Văn Đôn, nhưng chị không nỡ bỏ chồng con ở một chỗ để đi công tác xa. Sống ở Việt Bắc, với số lương không đủ ăn của anh Sỹ, chị Kiều Hạnh phải làm thêm cái nghề bán quà vặt như bánh chưng,sôi, mía, khoai lang, sắn luộc… cho nhân viên của cơ quan. Ca sĩ Mai Hương lúc đó mới có 9 tuổi mà phải vào rừng, dù trời mưa hay nắng, để hái lá rong cho mẹ gói bánh. Anh chị Sỹ cũng ở trong tình cảnh của đại đa số các gia đình thị dân khác, sau 5 năm rời bỏ Hà Nội để đi theo kháng chiến, bây giờ gia đình này đã kiệt quệ về kinh tế rồi. Và khi bố vợ tôi nhắn tin thì gia đình này bò về Thanh Hoá.

Đại gia đình gồm gia đình bố, mẹ, anh em nhà vợ, gia đình anh chị Sỹ và gia đình tôi bây giờ ngồi nói chuyện với nhau thì tất cả mọi người chỉ còn có một ý nghĩ: “dinh tê”. Y³ nghĩ buồn rầu đó đã xâm nhập tâm hồn tôi. Tôi đã soạn ra một bài hát kể chuyện một nàng tiên nữ có cái tên là Giáng Hương bị Trời đầy xuống trần gian. Bài hát nhan đề Cành Hoa Trắng:

Trời đầy cô tiên nữ
Xuống đầu thai thành hoa
Giữa đêm mờ, hoa nở ngát hương.
Người về trong đêm tối
Ôm cành hoa tả tơi
Bóng in dài gác đời lẻ loi…

Chúng tôi có khoảng một tháng trời để nhìn thấy chung quanh mình có khá nhiều gia đình đã “dinh tê”. Gặp được những gia đình bạn như gia đình Nguyễn Giao (bố vợ Hoàng Thi Thơ), gia đình Đỗ Xuân Hợp, gia đình Đoàn Châu Mậu… là có ngay những vụ bàn bạc về việc “rentrer”: vào thành? hay “rester”: ở lại?

Ơ± lại –”rét tê” — thì không còn tiền để mua gạo mà ăn. Chưa dám nói tới thịt, cá đâu. Nhất là không có tiền mua thuốc men để chống đỡ với các Thần Bệnh Tật. Riêng hoàn cảnh của gia đình tôi thì y hệt hoàn cảnh của người vợ lính trong bài thơ của Hoàng Cầm. Quán Thăng Long ế khách quá nên đóng cửa từ lâu, làm gì còn có dăm ba bát phở thừa để cho Thái Hằng ăn hằng ngày nữa. Thiếu sữa cho đứa bé ăn là cái chắc. Chẳng lẽ lại nuôi một con dê sữa như bà Đào Duy Kỳ ở Việt Bắc? Tôi nhìn lũ con của anh chị Sỹ là Mai Hương, Bạch Tuyết, thấy cháu nào cũng thiếu dinh dưỡng — nhất là cháu Sơn sinh ra ở Lạng Sơn — cháu nào cũng xanh xao gầy gò không thua gì cậu em vợ của tôi cả.

Vào thành — “rinh tê” — thì tiếc công đóng góp vào kháng chiến của mình. Cũng cần phải nói ngay rằng nếu trong lòng tôi lúc đó có một sự hoài nghi nào đối với lối cư sử của một tổ chức đang nắm vận mệnh của toàn dân thì tôi lại không có một chút hoài nghi nào về sự thắng lợi của kháng chiến cả. Sớm muộn thì Pháp cũng sẽ phải thua trong trận chiến này. Những người như tôi cũng có ích lợi cho một giai đoạn của cuộc kháng chiến rồi đấy. Đó là giai đoạn của Mặt Trận Việt Minh– trên danh nghĩa — bao gồm đủ mọi thành phần đảng phái. Nhưng bây giờ bộ mặt chính trị của Việt Minh đã đổi khác. Đảng Lao Động đã xuất hiện. Giai đoạn phản đế đã xong. Giai đoạn phản phong đã khởi sự. Bàn tay sắt đã giơ ra. Không một ai có thể đứng ngoài tổ chức được nữa. Tôi là một trường hợp muốn vượt ra ngoài tổ chức. Tôi bị bỏ quên là phải. Tôi không làm gì được cho kháng chiến nữa rồi, nhưng kháng chiến nhất định sẽ thành công. “Kháng Chiến Nhất Định Thành Công” không phải vì ông Hồ đã bảo như vậy, cơ quan tuyên truyền đã làm thành khẩu hiệu như vậy. Kháng chiến phải thành công vì Quân Đội của Việt Minh đã lớn mạnh, hậu phương của Việt Minh bây giờ không phải chỉ là vùng quê Việt Nam mà thôi, nó còn là cái nước khổng lồ Trung Cộng kia nữa, đa số dân chúng vẫn còn ủng hộ cuộc kháng chiến. Một số dân chúng bất mãn hay bị kiệt quệ về kinh tế mà phải bỏ kháng chiến về thành thì kháng chiến vẫn cứ nhất định thành công cho mà coi.

Bàn tán về việc “dinh tê”, chúng tôi có thêm nỗi sợ cả hai bên Công An Việt Minh và quân đội Pháp.

– Làm sao để đi thoát Công An Việt Minh?

Tôi bàn:

– Chia nhau ra mà đi, đừng đi chung cả ba gia đình.
– Tới vùng Pháp chiếm thì có bị Pháp giết như người ta đồn hay không? Ai sẽ đảm bảo cho mình khi mình tới vùng “địch”?

Bố vợ bảo:

– Đừng lo, miễn là về được tới Phát Diệm. Đã có anh Chung (Phạm Đình Chung, người con cả) đang làm việc trong Bảo An Đoàn ở Hà Nội đảm bảo cho mình.

Trong thời gian này, có một người biết tôi sẽ “dinh tê”. Đó là Nguyễn Đức Quỳnh. Một đêm, từ làng Quần Tín không xa Chợ Neo là mấy, anh đi bộ qua nhà tôi chơi. Hai anh em kéo nhau ra bờ đê sông máng, đứng nhìn về phía xa, thấy có một khoảng chân trời sáng hơn chỗ khác. Đó là một thành phố nào đó, có những đèn đường đêm đang phản ánh sáng lên trời, khiến cho dân thành phố như tôi và anh Quỳnh bỗng thấy nổi lên trong lòng một sự nhớ thương hè phố mà người Pháp đã gọi là “la nostalgie du pavé”. Tuy không nói ra, nhưng chúng tôi đã hẹn thầm là sẽ gặp nhau ở Hà Nội.

CHƯƠNG 35

Mùng 1 tháng 5 năm 1951, đại gia đình họ Phạm chia ra ba nhóm để dinh tê. Chúng tôi chọn ngày Lễ Lao Động để ra đi, tin rằng Công An hay cán bộ trong chính quyền ở nơi này cũng như ở những nơi khác đều lơ là trong việc canh gác, vì họ rất bận bịu trong công việc tổ chức ngày lễ quan trọng của họ. Ba người đàn ông là tôi và Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương đi một đàng. Đàn bà, con gái, ông già, trẻ con là ông bà Thăng Long, Thái Hằng, Băng Thanh và bé Quang đi một nẻo khác. Đứa bé được bỏ vào trong một cái thúng để gánh đi. Gia Đình Phạm Đình Sĩ, Kiều Hạnh đi riêng một nẻo khác. Đúng như dự đoán của chúng tôi, cuộc ra đi của ba toán đã chẳng gặp một trở lực nào cả.
Tôi, Phạm Đình Viêm và Phạm Đình Chương đã đi qua Đò Lèn để tới vùng Phát Diệm. Chỉ mất một ngày đường là tới vùng tề. Cảnh đồng quê vẫn êm đềm, óng ả như tự bao giờ, chẳng cần biết đến chuyến đi vô cùng quan trọng của chúng tôi. Vừa đi tôi vừa mở rộng đôi mắt, vừa lóng đôi tai để thu vào tâm trí hình ảnh và âm thanh của một miền đất nước mà không bao giờ — phải, không bao giờ — tôi còn nhìn, còn nghe thấy nữa. Tôi thở mạnh, không biết có phải tôi đang thở dài hay tôi đang cố hít một lần cuối cùng cái không khí “đồng quê bát ngát” nằm trong một bài hát của tôi đây?
Còn khoảng vài cây số nữa là sẽ tới cái đồn đầu tiên của vùng bên kia chiến tuyến. Chúng tôi gặp một cái quán nhỏ và vào quán để nghỉ ngơi. Lần đầu tiên, sau 5 năm đi kháng chiến, bây giờ chúng tôi mới nhìn thấy những chai rượu bia. Dù tôi không uống rượu bao giờ, cùng với hai anh em vợ, tôi cũng gọi mua một chai bia và một bát phở. Đã từng thiếu chất ngọt trong người từ lâu, cả ba chúng tôi pha đường vào bia để uống. Không ngờ bị say rượu, đỏ mặt tía tai lên. Đó là một kinh nghiệm đầu tiên trong cuộc đổi đời này. Ăn uống xong, chúng tôi hồi hộp ra đi trên con đường đưa chúng tôi tới thị xã Phát Diệm.

Khi tôi cùng với hai anh em vợ tới một con sông nhỏ thì nhìn thấy một cái đồn ở bên kia sông. Đột nhiên tôi thấy lá cờ tam tài cắm trên nóc đồn. Tôi bảo hai người anh em vợ hãy cùng tôi đứng lại ở bên này chiếc cầu. Ngước mắt nhìn lá cờ Pháp, tôi không làm sao ngăn được hai dòng nước mắt đang từ từ chảy trên đôi má…

… Nước mắt tiếc thương cho những năm đem hết tâm trí ra để cống hiến cho Cách Mạng và Kháng Chiến… Trong đó có giọt nước mắt rơi khi tưởng rằng gặp được tình yêu nước qua hình ảnh một lãnh tụ, trộn vào nước mắt vui trên chuyến xe lửa “xuất quân”, nước mắt rơm rớm khi nhìn thấy xác bạn đồng đội trong chiến khu Đất Đỏ, nước mắt cảm động khi nghe bà mẹ quê hát bài dân ca của mình mà ngỡ rẵng đó là một bài hát cổ truyền, nước mắt ào ào vì chuyện bi hùng của một bà mẹ ở huyện Gio Linh, nước mắt chảy vào trong ruột khi được tin mẹ mình đã mất. Và lúc này là nước mắt nhục nhã…

Tôi giật mình, vội lấy tay lau khô nước mắt khi nghe tiếng quát ở bên kia sông:

– Ê, mấy thằng kia. Đi đâu?

Nghe thấy tiếng súng lên đạn lóc cóc, chúng tôi vội vàng giơ cao lá cờ trắng đã làm sẵn với chiếc mù-xoa. Rồi chúng tôi bước qua cầu để tới đồn canh. Ơ đây lính giữ đồn là lính “Commando”, mặc binh phục mầu đen. Một Quản Binh Pháp tên là Vandenberghe đã tạo ra những toán lính Việt-Pháp này, ăn mặc và trang bị nhẹ giống như Việt Minh để hoạt động ở những vùng tề. Chúng tôi khai là thường dân đi tản cư ở vùng Việt Minh, nay đã kiệt quệ về kinh tế cho nên muốn trở về với gia đình và khai ra tên người anh ruột của Viêm là Phạm Đình Chung hiện đang phục vụ trong Bảo An Đoàn. Sau khi quay tê-lê-phôn hỏi ai đó không biết, trưởng toán lính Commando ký giấy cho chúng tôi ra đi. Chúng tôi vào tới thành phố Phát Diệm thì trời đã về chiều. Rồi đêm tối xập xuống. Chúng tôi đang đi lang thang ở trong đường phố tối om để tìm chỗ ngủ thì gặp một người quen tên là Diễn. Anh Diễn niềm nở cho chúng tôi về tạm trú tại nhà anh. Trong đêm đầu tiên ở một vùng cũng là phần đất quê hương nhưng vẫn còn cảm như xa lạ, tôi thức thâu đêm suốt sáng.
Hôm sau chúng tôi ra Ty Công An Phát Diệm để làm giấy tờ cần thiết. Chụp ảnh, lăn tay và được cấp một cái thẻ tùy thân to như một tấm passeport. Tôi cũng là nhân vật nổi tiếng ở trong vùng thành phố rồi cho nên tôi được đối sử rất là tử tế. Tôi không còn mang mặc cảm đầu hàng nữa khi nhận ra rằng vùng Phát Diệm này là một vùng rất độc lập. Ông Bảo Đại, sau khi từ Hồng Kông về nước với địa vị một Quốc Trưởng, đã giành được ở Pháp những gì mà ông Hồ đòi hỏi. Đã có một Chính Phủ Việt Nam mà Thủ Tướng là Trần Văn Hữu, Thủ Hiến Bắc Việt là Đặng Hữu Chí, nhưng người Công Giáo ở Khu Phát Diệm-Bùi Chu này, dưới sự lãnh đạo của Đức Giám Mục Lê Hữu Từ, vẫn tuyên bố vùng này là vùng tự trị, không thuộc quyền Phủ Thủ Hiến Bắc Việt. Không theo Pháp, không theo Việt Minh, không chịu sự chỉ huy của Phủ Thủ Hiến, họ có quân đội riêng, có tổ chức hành chính riêng. Đó là một thứ mầm mống của chính thể quốc gia sau này. Đặt bước chân đầu tiên vào vùng Bùi Chu-Phát Diệm này, tôi xác định là tôi về với quốc gia, không phải về với Pháp.

Chỉ ở lại Phát Diệm thêm một ngày nữa, rồi chúng tôi đi bộ qua Nam Định để từ đó mua vé máy bay đi Hà Nội. Tiền mua vé máy bay là tiền bán chiếc nhẫn cưới tôi mang theo phòng hờ. Lần đầu tiên ngồi trên máy bay, chúng tôi lại có thêm một kinh nghiệm nữa của cuộc đổi đời. Nhưng khi nhìn qua lỗ kính của máy bay để thấy cảnh đồng quê đang trôi lờ lững ở dưới kia, tôi cũng không cầm được dòng nước mắt. Về tới Hà Nội, tôi được tiếp đón rất nồng hậu bởi những bạn bè cũ của tôi, phần nhiều là đảng viên của Đảng Đại Việt, hiện nay đã nắm những chức vụ quan trọng của chính quyền. Ông Thị Trưởng Hà Nội Thẩm Hoàng Tín cũng là người quen biết. Ông có họ hàng với nhạc sĩ Thẩm Oánh. Có cuộc “thẩm vấn” người từ vùng Việt Minh trở về. Tôi cũng được anh bạn phụ trách việc phỏng vấn coi như một nghệ sĩ độc lập không làm chính trị cho nên buổi gặp gỡ đã diễn ra trong không khí thân hữu, nhẹ nhàng và nhanh như chớp nhoáng. Nhờ có hai người bạn là Đặng Trần Vận và Lý “Móm” — lúc đó đang làm việc trong hai tổ chức của Bộ Thông Tin và Bộ Nội Vụ — Sở Công An Hà Nội không làm phiền gì tôi nữa sau buổi phỏng vấn lúc ban đầu. Chỉ sau này, khi tôi vào sinh sống ở Saigon tôi mới bị Công An dưới quyền của Mai Hữu Xuân bắt nhốt vào khám Catinat trong 120 ngày. Bắt nhốt mà không có xét xử gì cả, với mục đích là “dằn mặt tôi”, một người mà họ ngờ là hãy còn dính líu với Việt Minh. Hồ sơ về vụ bắt tôi vào năm 1952 này đã được giải mật sau thời gian ba mươi năm. Tài liệu đó hiện đang nằm trong Thư Viện QuU³ốc Gia Pháp.

Hai ngày sau khi tôi về tới Hà Nội thì 2 toán “dinh tê” kia cũng đã từ Chợ Neo đi qua Đò Lèn vào tới Phát Diệm, rồi từ đó đáp tầu thủy, ngược con sông Đáy đi lên Hà Nội. Chúng tôi chia nhau ra tạm trú ở nhà bà con vài ngày rồi sau khi thuê được một cái garage ở phố Hàm Long thì tất cả chúng dọn về đó ở chung với nhau, 8 mạng người trong một gian phòng không đầy 70 thước vuông mà chúng tôi gọi là cái hộp diêm. Gia Đình Phạm Đình Sĩ tách rời ra khỏi đại gia đình này, đi ở chỗ khác. Người anh Cả Phạm Đình Chung mặc quân phục oai nghiêm tới “cái hôE°p diêm” để gặp mọi người trong gia đình và kể cho nghe những chiến dịch trong đó có sự tham dự của Bảo An Đoàn…

Hà Nội bây giờ đã có khá nhiều người trở về sau 5 năm đi tản cư. Thành đô rất náo nhiệt vì mang một bộ mặt chiến tranh khẩn cấp. Kịch chiến xẩy ra giữa Pháp và Việt Minh ở khắp mặt trung du. Tại Vĩnh Yên. quân chính quy của Việt Minh đã xuất trận nghênh chiến với Quân Đội Pháp dưới quyền chỉ huy mới mẻ và quyết liệt của tướng De Lattre. Tại mặt trận Ninh Bình, con trai độc nhất của De Lattre là trung úy Bernard bị tử thương. Đã có lính của Quân Đội Quốc Gia — được thành lập từ cuối năm 1950 — tham dự vào các chiến dịch bên cạnh Quân Đội Pháp. Khi còn ở vùng quê, trong một thời gian dài 5 năm trời, tôi không biết một tí gì về tình hình ở trên thế giới cả. Về Hà Nội đọc báo thì mới thấy chiến tranh Cao Ly đang đi vào hồi quyết liệt. Sau Hội Nghị ở Yalta là nơi các cường quốc chia nhau những vùng ảnh hưởng, với chiến tranh Cao Ly này, tôi thấy thế giới đã chia ra hai phe rõ rệt. Bất cứ một cuộc nội chiến ở một nước nhỏ nào — ngay từ bây giờ hay là về sau — theo tôi cũng chỉ là phản ảnh của cuộc chiến giữa hai phe Tư Bản và Cộng Sản. Tuy đã sống hơn năm năm xa cách và thương nhớ Hà Nội nhưng bây giờ thì tôi không còn một phút rảnh rang nào để sống với thành đô yêu dấu của tôi cả. Ngoài sự lo liệu nơi ăn chốn ở và sự mưu sinh cho cả gia đình bố mẹ vợ lẫn gia đình của mình, tôi còn luôn luôn bị cái dĩ vãng gần gũi ám ảnh. Tâm trạng của tôi lúc đó còn là của một người hoảng hốt, vừa bị mất đi một tình yêu quá lớn và chưa có một mối tình tự quê hương nào tới để thay thế. Mối tình này rồi cũng sẽ tới, nhưng hiện nay còn quá sớm để nói tới nó…

Một cậu em tên là Phạm Viết, người phố Hàng Tre — mà tôi yêu mến vô ngần kể từ ngày hai anh em còn chia nhau miếng bánh mì chấm dấm ở trường Tiểu Học phố Hàng Thùng — đang là cán bộ Việt Minh hoạt động ở trong nội thành, bí mật tới gặp tôi ở trên căn gác nhỏ trong ngôi nhà lớn ở đường Carreau ngay khi tôi mới chân ướt chân ráo về tới Hà Nội và đang tạm trú tại nhà người anh rể. Phạm Viết cũng hoảng hốt như tôi. Hai anh em nhìn nhau rất lâu. Rồi chúng tôi mở lời tâm sự với nhau. Phạm Viết không có đủ thẩm quyền để trả lời những câu hỏi hoài nghi của tôi. Rồi cậu em mở cửa ra đi. Không bao giờ tôi gặp lại Phạm Viết thân yêu của tôi nữa.

Cùng với mấy người anh em vợ, chúng tôi đi coi phim chiếu bóng là môn giải trí mà chúng tôi đã thiếu thốn trong nhiều năm qua. Lúc đó có một rạp “xi nê ma” mới là rạp Studio, rất khang trang, ở gần rạp Majestic trên đường Hai Bà Trưng chiếu những phim “Tân Tả Thực” của ợY Đại Lợi trong đó có những tài tử như Vittorio De Sica, Sophia Loren đóng vai chính. Tôi rất thích những chuyện phim như Kẻ Cắp Xe Đạp (Le Voleur De Bicyclette) Lũ Trẻ Đánh Giầy (Sìiùca) nói lên thảm trạng của người dân ợY trong Thế Chiến 2. Nhưng ngoài thời gian đi rong chơi hay đi coi phim chiếu bóng như vậy, chúng tôi không biết phải làm cái gì cả. Gia đình ca nhạc sĩ của chúng tôi ngồi nhìn nhau suốt ngày. Thế là sau hai tuần sống ở thành đô này, tôi có ngay ý nghĩ là chúng tôi khó có thể sinh sống ở Hà Nội được. Phải đi tìm đất sống. Đi tìm một nơi nào có thể “bán” được tiếng đàn, tiếng hát của mình. Tôi lập tức đáp máy bay vào Saigon là nơi tôi đã có kinh nghiệm sống, nơi chắc chắn có Đài Phát Thanh, có hãng sản xuất đĩa hát, có gánh hát rong… địa bàn hoạt động của mình là đó.

Gặp lại Saigon, tôi không thấy ở đây có không khí chiến tranh như ở Hà Nội. Trái lại, thành phố có vẻ thanh bình và sầm uất hơn thời tôi đi theo gánh hát Cải Lương và thời tôi “hoạt động cách mạng” (!). Pháp có ưu thế quân sự hơn Việt Minh ở miền Nam cho nên Saigon rất an ninh dù thỉnh thoảng cũng có một, hai vụ ám sát viên thanh tra mật thám người Pháp hay người công chức cao cấp người Việt. Còn đang trong tâm trạng của một người vừa ở bên kia chiến tuyến trở về và đang lo tìm cách sống, tôi không dám nghĩ tới chuyện rong chơi tại nơi được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông này. Tôi đang chạy đi chạy lại trong thành phố đã được mở rộng hơn trước để tìm việc thì tôi gặp được Hoàng Cao Tăng, chủ sự Phòng Chương Trình của Đài Pháp A³, là người tôi đã quen biết từ trước.

Hoàng Cao Tăng đảm bảo là gia đình chúng tôi sẽ được mời tới hát tại đài phát thanh này với số tiền thù lao đủ cho mỗi người có một đời sống tương đối không khó khăn lắm. Gặp Phạm Xuân Thái và thấy anh bạn này vẫn sống một cách ung dung nhàn nhã và sẵn sàng cho đại gia đình chúng tôi tạm trú tại nhà anh. Rồi khi tôi tới gặp chủ nhân một hãng sản xuất điã hát Việt Nam là Lê Văn Tài thì tôi được lĩnh trước một số tiền tác quyền khá lớn. Tân Nhạc ở Saigon lúc này đã có đất sống. Trước kia, các hãng sản xuất đĩa hát chỉ thu thanh cổ nhạc, nay đã khởi sự thu thanh tân nhạc. Với kinh nghiệm đi hát với gánh Đức Huy, tôi thấy rằng nếu vào Nam sinh sống, tôi còn có thể tổ chức cho gia đình đi hát ở mọi nơi, nếu chúng tôi thành lập được một ban hợp ca và phối hợp với một ban kịch nhỏ. Chúng tôi sẽ có thể sống bằng nghề âm nhạc, một nghề rất độc lập, không cần phải dính líu tới chính trị.

Trở ra Hà Nội, tôi đã dùng số tiền lĩnh trước của Lê Văn Tài để mua vé máy bay cho tất cả mọi người đi vào miền Nam. Tính ra thì từ ngày bỏ Chợ Neo, Thanh Hoá để “dinh tê” vào thành, chúng tôi chỉ ở lại Hà Nội trong đúng có một tháng trời.

Trích HỒI KÝ PHẠM DUY

Nguồn Blog Đào Hiếu