Đọc cuối tuần – Chuyện nhà

Hồi mới lấy vợ, mình ở chung nhà với bố mẹ vợ. Thú thực là mất tự do và nhân cách bỏ mẹ. Tuyền phải đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên, đánh rắm xịt. Một hôm mình bảo bố vợ:

Chúng con xin ở riêng.

Cho thiên hạ ỉa vào mặt tao à. Lão quát. Nhà có ba mống, thêm anh là bốn, chật chội gì mà riêng với chung.

Cơ mà chúng con muốn độc lập. Vả lại bạn bè, khách khứa cũng tiện hơn.

Nhà này làm anh bất tiện thế cơ à? Lão điên. Mình tịt hẳn.

Mình tâm sự với vợ. Vợ mình bảo cứ cò cưa thời gian nữa, rồi tính. Chứ tiền đâu mua nhà riêng, thuê mướn đắt đỏ. Đúng là cái loại liền bà, bướm cạnh đít.

Mình bắt đầu gây sự, cốt để bố mẹ vợ ngứa mắt tống đi, đồng thời thử gan vợ xem nó có tha thiết với mình hay không. Mình bắt đầu về muộn, bỏ bữa tối liên tục nhưng không thông báo cắt cơm. Bố mẹ vợ chả thấy cằn nhằn gì, lại còn bắt vợ mình phần cơm nóng sốt, bữa nào cũng ý tứ để dăm lon bia hoặc vài giọt rượu mật ong ngâm sâm đất. Mẹ vợ động viên, tranh thủ nhắc vợ mình, anh ấy bận rộn công việc, phải lo mà chăm nom, tẩm bổ. Vợ mình gật. Tối lên phòng, nó hỏi:

Anh bận thế cơ à?

Biết rồi còn phải hỏi.

Liệu liệu cái thần hồn. Léng phéng con nào tôi giết.

Mẹ cái loại đàn bà, bướm cạnh đít.

Mình bắt đầu về thất thường, hôm sớm, hôm muộn. Đã thế tuyền trong trạng thái khê nồng, liêu xiêu. Hôm nào về sớm mẹ vợ lại phải khổ sở đi pha nước mát. Về muộn thì vợ phải giặt khăn chườm mặt, đắp đầu. Bố vợ còn kiếm đâu được đồng bạc trắng, to tròn như cái bích quy, í tứ dúi cho mình, dặn, trúng gió có cái mà cạo. Mình điên lắm.

Bạn vợ đầy tháng con, mời hai vợ chồng mình đến đánh nhắm. Nhìn chúng nó nhà riêng bé xinh, hai vợ chồng son và ông cún con mới đẻ mà mình thấy thèm và ngưỡng mộ. Đã thế, chúng còn xát muối vào lòng mình khi bô bô kể chuyện hạnh phúc và nỗi đau của sự riêng – chung. Mình tủi thân, xấu hổ, hờn ghen quá thể. Mình trút hết vào rượu, phê mắt lồi đụng trần. Vợ mình chở mình về. Nhục quá, đã chó chui gầm chạn giờ lại ngồi sau đít liền bà thế này là đéo được. Mình khật khưỡng giành lái, hùng dũng loạng quạng hiên ngang phóng về nhà. Mẹ vợ ra mở cửa thì nhận ngay “ gói sản phẩm” to tướng vào chân. Bố vợ ra đỡ thì nhận ngay một bãi nữa vào vạt áo. Vợ mình lúi húi dắt xe vào nhà, khóc như ri. Mình nôn từ tầng một đến chỗ nằm, giải đều 3 cấp cầu thang.

Tỉnh dậy đã nghe tiếng bố mẹ vợ mắng vợ mình, rằng là ngu, chồng say mà để đi đứng thế có ngày chết, rằng phải cho anh ấy nương nơi kín gió xong hẵng về, hoặc về thì gọi tắc xi, rằng, thì, là, mà…Mình buồn thúi ruột.

Mình không có cách nào thoát ra được khỏi nhà bố mẹ vợ. Càng giở trò giở trống thì càng được chia sẻ, yêu chiều. Mình hay đem chuyện này tâm sự với các bạn. Chúng bảo mình hâm, lộc đấy, cứ thế mà hưởng. Đèo mẹ, chúng lại quên mất câu lộc bất tận hưởng, thế có chán không?

Gần ba năm sau ngày cưới mà vợ mình chả thấy đẻ đái gì. Nội ngoại hai bên giục như hò đò. Đi khám, bác sĩ bảo cả hai đều bình thường. Ơ, lạ nhể? Bố mẹ vợ mình buồn ra mặt. Cũng phải, nhà neo người, phải có cháu mà chăm, trông mình ông con rể vẫn còn dư sức. Hôm khuya khuya, mình lọ mọ xuống đốt thuốc uống trà với bố vợ. Mình bảo:

Nhà ta có ma ám, nhất là phòng vợ chồng con, sợ sợ là. Như thế đẻ đái khó lắm.

Anh xoay hướng giường đi xem sao.

Thế thì lại chổng đít vào mặt các cụ. ( chả là ngay phòng vợ chồng mình là gian thờ các cụ )

Không sao, để mai gọi thợ may rèm che lại.

Không được đâu. Hôm nọ vợ chồng con đi xem bói chuyện con cái. Ông thày phán phải đi chỗ khác mới xong.

Đừng đem thánh ra dọa tôi. Xưa tôi đẻ ra vợ anh trên máy xúc đấy ( bố vợ mình làm công nhân lái máy xúc than, hồi ấy )

Mình đem chuyện này nói với mẹ vợ. Mẹ vợ mình ngồi nghe ừ hử, chả nói năng thêm nhưng bà đính chính là đẻ ra vợ mình ở căn gác xép khu tập thể tồi tàn đất mỏ. Ôi giời, máy xúc mới chả gác xép. Nẫu ruột!

5 năm, vợ mình vẫn không thấy chửa đẻ. Bố mẹ vợ mình cũng già đi trông thấy. Vợ mình còn tệ hơn, bụng ỏng, đít beo, vú lõm, chán chán là. Còn mình, ngày càng được yêu chiều tợn, phởn phởn là. Nhà có đám giỗ, mình tọa mâm trên, y thượng khách. Mình dọa bố vợ, dọa luôn cả họ nhà vợ, xin giả vợ con về nơi sản xuất. Bố vợ run, cả họ giận. Nguôi cơn, bố vợ mình bảo, anh bé miệng thôi, im tôi nhờ, các cho cái nhà đấy, ra ở riêng. Ối giời, mình phấn khởi cực.

Đêm, họp gia đình. Bố vợ mình hỏi:

Vợ chồng anh có bao nhiêu?

Vàng 7 cây, tiền mặt hơn trăm triệu. Mình nói vống

Thiếu nhiều đấy. Bố vợ đăm chiêu.

Mẹ cho một trăm. Mẹ vợ mình bảo.

Em ứng lương vay quỹ thêm năm chục. Vợ mình thật thà ( ngu vãi ra )

Thôi được, còn đâu tôi lo tất. Bố vợ mình dứt khoát.

Mua được cái nhà 500 chai, xóm ếch nhái, khá xinh. Mình đòi đứng tên sổ đỏ. Bố vợ mình không nhất trí, đòi đứng chung. Đèo mẹ, cho ông đứng một mình, tôi dí dái.

Vợ chồng mình chuyển qua, sống say sưa. Hai thân già rù như lá héo, đêm ngày thập thò thăm nom.

Năm nay 2011, nhà mình giờ là trung tâm phố nhớn, khu kiểu cách, giá xấp xỉ gấp 10 lần giá khi mua. Bố mẹ vợ mình già lắm rồi nhưng còn lâu mới chết. Vợ mình vẫn không đẻ đái được nhưng mình cũng đã kịp có thằng cu. Các bạn đừng hỏi đâu ra nhế, sự đó nó cũng thường thôi mà.

Hôm nọ, kỷ niệm 10 năm ngày cưới, mình đặt tiệc sang nhà hàng, đón cả bố mẹ vợ đến xơi. Dứt bữa, lão khọt khẹt:

Bố mẹ bán nhà sang ở với vợ chồng anh nhế? ( tử tế tợn, hehe)

Tiền bán nhà cho vợ chồng con một nửa. Mẹ vợ mình chân tình.

Chúng con bận công việc nhưng sẽ thuê cho bố mẹ một ô sin. Vợ mình lo xa.

Thôi, cứ cho vợ chồng con hết. Con tình nguyện ở nhà chăm nom chu đáo, ân cần. Mình giở khôn, giở dại.

Nhà bán, 7 tỷ đồng. Chả biết cam kết kia thực hiện đến đâu nhưng mọi nhẽ im thít. Bố mẹ vợ chuyển sang sống cùng vợ chồng mình. Dọn nguyên tầng 3 cho cặp uyên ương già với bao thứ của nợ lỉnh kỉnh. Mình thành rể ngoan nhưng đêm đêm vẫn rình rập đổ mỡ cầu thang, sàn gạch. Mình thèm món 7 tỷ kia quá thể nhưng không dám nói ra vì sợ tiếng tham lam, xấu tính. Mình kháy vợ:

Tiền nhiều chết thì ma to lắm

Mua vàng với gửi tiết kiệm hết rồi. Vợ mình tiết lộ.

Em phải giục viết di chúc đi.

Ừ phải. Chứ nhỡ chết đi chả biết đâu mà lần. Vợ mình hồn nhiên.

Mình đưa vợ đi làm IVF, bố mẹ vợ cho dăm chục thuốc thang. Mình khi, không cầm, nhủ bụng, mấy xu bọ, chã bõ. Ra tấm ra món còn chả ăn ai nữa là sự vặt vãnh, bèo nhèo. Vợ mình trúng quả, thai đôi, hơn tháng rồi. Phù, ơn giời, ơn phật! Nhà mình lúc nào cũng như có đám, tiếp khách khứa họ hàng bở hơi tai.

Hôm trước, chủ nhật, mình không đi chơi đâu, tự nguyện ở nhà dọn dẹp. Con ô sin chân ngắn không lau được ban thờ. Mình tranh lau và thắp hương cẩn báo luôn thể. Bỏ mấy thẻ hương thừa trong cái ống hương đồng bóng nháng, mình thay nhang mới vào. Lật đật thế nào mà ống hương lại tòi ra cuộn giấy được buộc nhiễu đỏ chắc chắn. Mình tò mò giở ra. Di chúc, giời ạ. Bố mẹ vợ mình để di chúc trong đó, nét chữ còn tươi màu mực. Mình run rẩy đọc trộm, tìm mỏi mắt chỗ bạc vàng để đâu, cho ai mà chả thấy nhưng dòng cuối có ghi “ ông con rể phot_phet nếu ngoan và biết điều thì di chúc này sẽ được bổ xung…bằng miệng những điều khoản cần thiết.”

Mình đem chuyện này nói với vợ, Nó thản nhiên há mồm ngáp, tay vỗ bồm bộp lên nắp, ( phắn hóng gió tý )

@PhotPhet Blog

Những người con H.O: Sức bật của một thế hệ

Ngọc Lan/Người Vi

Hình ảnh anh hai tôi đứng cạnh má, những ngón tay miết trên xấp vải áo mới toanh, mặt cúi xuống, giọng nghẹn đắng, “Ðể dành sang năm con thi lại, nếu đậu con sẽ may áo.” Má tôi ngồi, nước mắt vòng quanh, lặng lẽ, khóc.

Xấp vải là quà má dành dụm bao lâu để mua làm phần thưởng mừng anh vào đại học. Ngày anh đi nhận giấy báo điểm về. Má lấy xấp vải đưa cho anh, không cần hỏi kết quả. Giá mà lý lịch gia đình tôi không phải “đối tượng 13” thì anh đã dư nhiều lắm rồi, điểm đậu vào trường đại học y khoa.

Ngày đó, tôi còn là đứa bé chưa đến tuổi lên 10. Nhưng không hiểu sao khoảnh khắc tê lặng đó cứ ở mãi trong đầu tôi. Ám ảnh.

Tôi lớn thêm vài tuổi. Một bài báo nổi tiếng viết về anh học trò tên Huy, tôi quên mất họ anh rồi, quê ngoài miền Trung, anh thi đại học 3 lần, là 3 lần anh đậu thủ khoa, của 3 trường khác nhau. Và, cũng 3 lần, anh bị người ta từ chối cho anh đặt chân vào giảng đường đại học.

Lý do gì ư?

Anh là con của một sĩ quan chế độ cũ.

Tôi vẫn nhớ hoài câu anh nói trên báo Tuổi Trẻ ngày đó, “Không ai muốn được sinh ra dưới một ngôi sao xấu, và cũng không ai có quyền được chọn cửa để sinh ra. Tôi vào đời bằng những khát vọng lớn lao của tuổi trẻ, nhưng đời đã tặng tôi những cái tát nghiệt ngã nhất…”

Bài báo đó, câu nói đó, cũng không hiểu vì sao, ám ảnh tôi. Nặng trĩu.

Không biết có phải vì điều này, mà ngay khi được gợi ý, “hãy tìm hiểu và viết về những người con H.O, những người từng bị vùi dập, từng trải qua những nhọc nhằn, cay đắng khi còn ở Việt Nam. Nhưng khi sang miền đất này, họ như hạt mầm bị dồn nén bấy lâu, nay bật lên, vươn mình đứng dậy, biết khẳng định mình một cách trang trọng và đường hoàng,” tôi đã gật đầu không chút ngần ngại.

Bởi, tôi biết ngay rằng, mình làm được. Bởi, cảm xúc này, đã có sẵn trong tôi.

Lớn lên khi ba vào “tù cải tạo”

Tôi trò chuyện cùng ba người, một bác sĩ, một dược sĩ và một kỹ sư điện toán. Họ chẳng là những người nổi tiếng. Họ thuộc về số đông những người bình thường, giản dị mà ta gặp hằng ngày trong cuộc sống quanh đây.

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Nhưng, nhìn chặng đường họ đã qua, để có thể bây giờ đường hoàng là kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, mới hiểu và khâm phục hơn những con người của một thế hệ, thế hệ vào đời ngay vào lúc khó khăn nhất của đất nước.

Họ là Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng, Dược Sĩ Ðoàn Trang Anh, và kỹ sư Lê Công Quý.

Giữa họ có một điểm chung, đó là ba của ai cũng mang hàm cấp tá, thiếu tá và đại tá. Và dĩ nhiên, ba ai cũng để lại một phần đời mình trong chốn “tù cải tạo,” người 5, 6 năm, người vừa chẵn 10 năm.

Ở thời điểm tháng 4 năm 1975, anh Hoàng được 16 tuổi, anh Quý 15, và chị Trang Anh lên 10. Ở độ tuổi này, cả ba người, như bao người dân khác ở Việt Nam, không phân biệt tuổi tác và giới tính, bị cuốn vào cơn sóng của thời lịch sử đổi thay.

“Ba đi tù, một mình mẹ tôi với năm con nhỏ, lớn nhất mới 11, nhỏ nhất chưa đầy năm. Không thể nào chăm sóc hết đàn con như vậy, nên chị tôi và hai đứa em nhỏ theo mẹ về sống bên ngoại, tôi cùng thằng em kế về với bà nội. 9 tuổi đầu, tôi đã biết chẻ củi, nấu cơm, tự chăm sóc mình.” Trang Anh, hiện đang là dược sĩ làm việc trong hệ thống Wal-Mart, nhớ lại.

Kỹ sư điện toán Lê Công Quý hồi tưởng, “Ngày Việt Cộng vô Ðà Nẵng, ba tôi đưa cả nhà chạy vô Sài Gòn ở trại gia binh. Khi ba đi tù, nhà cửa ngoài Ðà Nẵng bị tịch thu, thế là má tôi dắt díu anh em tôi chạy về quê ngoại ở Ðơn Dương, nơi cách Ðà Lạt chừng 58 cây số.”

“Ðói no gì cũng không được nghỉ học” là yêu cầu của má anh Quý đặt ra cho các con, nhưng một buổi đến trường, buổi còn lại anh Quý phải “đi làm cỏ, cắt lúa cho người ta”.

Với Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng, dù là con đại tá nhưng “số cực” dường như đeo đuổi anh từ nhỏ. Là anh trai cả, nên ngay khi ba anh vào “trại cải tạo,” cũng là lúc anh Hoàng “phải nhào ra phụ kiếm cơm” bằng cách “đẩy xe cóc ổi đi bán rong, ôm thùng thuốc lá ra đầu ngõ ngồi bán từng điếu”. Chưa hết, anh còn biết “quay roneo” các bài hát để bán cho bạn học cùng trường, lúc “nhà nước đổi tiền” anh cũng “bày đặt chạy áp phe, làm đủ thứ trên đời để có tiền mang về phụ mẹ.”

Nhọc nhằn và cơ cực, chưa bao giờ được ăn bát cơm trắng trọn vẹn, ngoại trừ khoai độn, sắn độn, mì độn, nhưng cố gắng đeo đuổi trường lớp, không dở dang chuyện học hành là điều cả ba người phải tâm niệm.

Tuy nhiên, tốt nghiệp lớp 12, cánh cửa để những người con sĩ quan này bước chân vào đại học cứ khi ẩn khi hiện như trò chơi cút bắt.

Ðường vào đại học gian nan

Chị Trang Anh kể, “Ðâu có bao giờ mình muốn dừng lại ở lớp 12 đâu. Nhưng khi mang giấy tờ lên phường ‘xác minh’ thì họ nói ba tôi là sĩ quan chế độ cũ, ‘chính quyền không bỏ tiền nuôi cho những thành phần như vậy’ nên họ không ký. Mà địa phương không ký thì làm sao thi đại học? Thế nên ngay cả cơ hội đi thi đại học tôi cũng không có.”

Anh Lê Công Quý may mắn hơn chị Trang Anh ở chỗ: Ít ra anh biết thế nào là thi đại học và cảm giác cầm được giấy báo đậu vào trường Ðại Học Kinh Tế Tài Chánh ở Sài Gòn là như thế nào.

Anh cứ ngỡ như mình trong mơ! Con ngụy mà cũng được vào đại học sao? Thầy chủ nhiệm dạy toán, người cũng có cha là “sĩ quan chế độ cũ,” cũng là người ‘bảo lãnh’ để anh Quý không bị “gửi qua công an” khi anh dám dùng phấn viết lên bảng chữ “Ðả đảo cộng sản,” đã dẫn đứa học trò mình lên tận ủy ban nhân dân tỉnh để hỏi cho chắc ăn có phải là Lê Công Quý được vào đại học?

Dược Sĩ Ðoàn Trang Anh. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Nghe người ta khẳng định là chắc. Cậu học trò tỉnh lẻ mừng còn hơn được vàng, và có lẽ, lần đầu tiên trong đời cậu thầm cám ơn “Ðảng quang vinh biết xóa bỏ hận thù, cào bằng tất cả để cho đứa con ngụy như mình có cơ hội đổi đời.”

Anh Quý làm hồ sơ, giấy tờ, cắt hộ khẩu nơi quê nhà để khăn gói vào Sài Gòn chuẩn bị cuộc đời làm sinh viên.

Thế nhưng.

Thà như Trang Anh bị tước đi cơ hội thi đại học ngay từ lúc đầu.

Thà như người ta gửi giấy báo cho anh biết điểm anh cao nhưng vì anh là “đối tượng 13” nên anh không thể vào học.

Thà như…

Thà như…

Cứ 10, 20, thậm chí 50 cái thà như kiểu vậy từ lúc đầu thì Quý vẫn cảm thấy nhẹ lòng hơn.

Ðằng này…

Niềm vui háo hức của người thanh niên 18 tuổi bị dập tắt một cách không thương tiếc ngay khi bước chân vào phòng giáo vụ.

“Anh là đối tượng 13, không có tiêu chuẩn chính trị để học trường này. Anh đi về đi. Cái giấy này là do máy tính gửi sai thôi, chứ anh không đủ tiêu chuẩn học. Về đi.” Một thầy giáo nơi phòng giáo vụ trường Kinh tế tài chánh đã chẳng ngại ngần nói cho Quý biết.

Tiếng kêu “trời ơi” của người đàn ông nay đã ngoài 50 kể lại giây phút bị người ta “ném ra đường” cách đây hơn 30 năm mà nghe vẫn còn quặn thắt một nỗi đau.

“Trời ơi, cả cuộc đời sụp đổ dưới chân tôi. Tôi hụt hẫng dễ sợ. Bởi ở Việt Nam đứa học trò nào đang học 12 cũng nghĩ vô được đại học là cuộc đời mình mở ra tương lai tươi sáng, hy vọng đủ thứ hết. Giờ nghe họ nói vậy, tôi gần như điên luôn!”

Não nề. Chán nản. Suy sụp. Mất phương hướng. Quý gần như mất trí, lang thang khắp Sài Gòn, không dám quay về Ðơn Dương, “ăn làm sao, nói làm sao đây khi bạn bè, chòm xóm, gia đình đều nghĩ rằng mình vào Sài Gòn để đi học đại học?”

“Thực sự tôi không nhớ nhiều lắm lúc đó tôi như thế nào. Tôi chỉ biết mình lang thang khắp nơi. Hụt hẫng, đau khổ lắm. Lúc đó có ai đưa lựu đạn kêu tôi quăng tôi cũng dám. Tôi thấy cuộc đời mình coi như chấm dứt.” Anh Quý nói.

Một người bạn cùng quê với anh, cũng vào Sài Gòn học, nhìn thấy tình cảnh bi đát đó, đã “lén” báo về quê cho gia đình Quý hay. Má anh lặn lội vào Sài Gòn đón con về.

Có điều, trước khi mang đứa con tội nghiệp trở về Ðơn Dương, người mẹ uất ức tìm đến trường đại học để khiếu nại. Nhưng “một ông ở phòng tổ chức nói, mang 5 cây vàng vô đây thì tôi lo cho nó có chỗ học”. Má tôi không dằn được, “Nếu có 5 cây, tôi đã cho nó đi vượt biên rồi chứ đi học làm gì!”

Phẫn uất, vì phận mình là “ngụy”. Nhưng, vẫn phải về.

“Thấy tôi sốc, chán đời đến gần như tưng tửng luôn, nên má tôi quyết định gửi tôi vào chùa ở một thời gian tôi mới tỉnh lại bình thường.” Anh kể, giọng cười nghe buồn tênh.

Không giống Trang Anh và Quý, Nguyễn Trần Hoàng không thi đại học ngay sau khi tốt nghiệp 12.

“Tôi không thi bởi lúc đó tôi chưa biết mình muốn gì. Lúc nhỏ tôi mơ làm văn sĩ, lúc lớn hơn thì thích làm luật sư. Nhưng sau 75 thì thấy văn sĩ coi bộ không thực tế, còn luật thì khi đó làm gì có luật để mà làm luật sư, cho nên tôi cũng không thích luôn. Tôi đi làm những chuyện linh tinh khác.” Anh Hoàng cho biết.

4 năm sau, “sau một trận bệnh tưởng chừng mình sắp tận cùng phần số,” anh quyết định nộp đơn thi vào trường đại học Y khoa, vì “thấy bác sĩ cũng nhiều người có lòng cứu mình khỏi chết trong khi mình nghèo quá”.

Ðể có thể vào được Y khoa, trong khi ba từng là trung tá trưởng phòng chỉnh huấn Biệt khu Thủ đô, hiện vẫn còn trong trại cải tạo, đòi hỏi người thí sinh đó phải có số điểm gần như tuyệt đối. Vậy mà Nguyễn Trần Hoàng đã làm được, bằng chính sức học của mình.

Ba năm sau khi trở thành bác sĩ ở Việt Nam, năm 1991, anh Nguyễn Trần Hoàng cùng ba má và các em sang Mỹ định cư, sau Dược Sĩ Ðoàn Trang Anh một năm, và trước kỹ sư điện toán Lê Công Quý hai năm.

Làm lại cuộc đời trên đất tự do

Sang Mỹ khi đã ngoài 30 tuổi, Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng bắt đầu lao vào mưu sinh kiếm sống bằng công việc… đứng phụ “chợ trời”.

Anh kể bằng giọng từ tốn, “Mình không quen biết ai hết, nên cứ 3, 4 giờ sáng là ra chỗ chợ trời Cypress ở Costa Mesa đứng chờ xem có ai kêu mình phụ gì không. Chắc tại mình nhỏ con nên thường chẳng ai gọi phụ. Ðứng đến 7, 8 giờ không thấy ai gọi hết thì về.”

Rồi anh lại chuyển sang “đi bỏ cơm chay,” “đi bỏ báo”.

“Có lúc tôi xin đi làm công việc lau chùi, quét dọn cầu tiêu nữa. Vậy mà lúc phỏng vấn người ta cũng không thèm nhận. Có thể nói đó là lúc nản nhất trong cuộc đời tôi. Chán nản, và có lúc như bị trầm cảm nữa.” Người bác sĩ ngồi trong phòng mạch hiện tại của mình trên đường Lilac, kể về những ngày đầu tới Mỹ.

Sau, anh lại chuyển sang “nghề dạy lái xe”. Anh cười hóm hỉnh, “Hồi đó qua đâu có tiền học, nên tự tập lái rồi tự đi thi. Thi tới sáu lần mới đậu, nên rớt kiểu gì tôi cũng rành hết.”

Như đã nói lúc đầu, Nguyễn Trần Hoàng “có duyên với số cực”. Sang Mỹ chưa bao lâu. ba anh lâm bệnh, “từ cao huyết áp khi còn ở Việt Nam, qua đây chuyển sang suy thận giai đoạn cuối. Rồi từ thận lại sang tim, rồi biến chứng tùm lum hết”.

“Khoảng 3 năm sau khi đến Mỹ, ba tôi qua đời. Còn tôi thì tương lai vẫn mờ mịt, chẳng biết tới đâu, về đâu.” Anh kể.

Từ lúc qua Mỹ, cho tới lúc anh thi đậu lại bằng bác sĩ và có số điểm đủ cao để có thể xin một chỗ đi thực tập tại bệnh viện, mất tổng cộng 8 năm, “8 năm đó, tôi chỉ biết ngủ ở phòng khách, trên ghế salon cho đỡ tốn tiền. Những năm sau, tôi đi làm ít lại, mượn thêm ít tiền của đứa em đủ để trang trải tiền ăn ở, còn dành thời gian dốc sức vào chuyện học.”

Dược Sĩ Ðoàn Trang Anh thì may mắn hơn trong chuyện học hành khi sang miền đất này, như thể một sự đền bù cho những năm tháng chị không biết gì là “trường đại học ở Việt Nam”.

Chị nói, “Sau 7, 8 năm bị gián đoạn ở Việt Nam, không được học hành là tôi thấy bứt rứt lắm rồi. Cho nên khi được sang đây, trong đầu mình nghĩ là mình phải học, học nghề mà mình mơ ước hồi nhỏ, học để thành dược sĩ.”

Trang Anh học bằng tất cả sự say mê của mình, có chồng, có con vẫn còn tiếp tục học.

“Năm 1996, tôi lấy bằng cử nhân ngành Biopsychology của trường Ðại Học Long Beach . Ra trường, tôi đi làm ngay, suốt 8, 9 năm. Trong thời gian đó, tôi tiếp tục theo học để lấy bằng master. Ðến năm 2004, tôi quyết định ‘quit job,’ theo học chương trình Dược Sĩ tại trường Western Pomona. Ðến năm 2008, tôi chính thức trở thành dược sĩ.”

Ðó là hành trình đeo đuổi để đạt được ước mơ mà Trang Anh đã không thể thực hiện được khi ở Việt Nam.

Dù là ước mơ đó chị phải kiên trì mất gần 20 năm mới đạt được, nhưng Trang Anh luôn cảm thấy rất vui, rất thích nơi đã cho chị những cơ hội mà chị không thể nào tìm được ở quê nhà, chỉ bởi vì chị là “con ngụy”.

Với Lê Công Quý, cuộc đời anh thật sự như sang một trang mới khi đặt chân đến miền đất của tự do.

“Mình đang ở chỗ khổ quá mà, hết thảy mấy anh em tôi đều đi làm cực khổ, đi học cực khổ. Giờ sang đây nào là được ‘tiền ông Bush cho,’ nào là tiền foodstamp, ăn không có hết. Cứ thấy mình như ở thiên đường, thấy thật sự trân trọng những thứ mình có.” Anh Quý kể lại bằng giọng sôi nổi.

Cũng như những người tị nạn khác, anh Quý phải đi làm thêm bên cạnh thời gian đi học. “Cũng xin đi làm lau chùi, quét dọn restroom, đi đổ rác, đi bỏ báo, sau thì đi làm ở cây xăng. Nhưng ở quê cực quá rồi nên những chuyện đó anh em tôi không xem là cực nữa.” Anh cho biết.

Rồi anh trầm giọng, “Chuyện tôi bị đuổi về khi lên trường đại học nó nằm trong lòng tôi dễ sợ lắm. Sau này khi họ cho tôi đi học cao đẳng. Ði dạy một thời gian, tôi xin đi học tại chức họ cũng không cho. Hình như chính vì vậy mà chuyện phải học đại học nó cứ thôi thúc tôi suốt. Nên khi sang đây, không chờ phải đủ một năm để xin tiền financial aid, mà tôi đi học liền, học ào ào luôn.”

Nói là “học ào ào,” nhưng “một chữ tiếng Anh bẻ đôi cũng không biết,” nên người ta học 15, 20 phút, anh Quý phải học 1 tiếng, 2 tiếng. “Ðau khổ nhất là mấy lớp ESL, vừa học vừa khóc, nhưng rồi cuối cùng cũng qua. Sau hai năm ở college, tôi được nhận vào trường UC Davis.”

Kỹ sư điện toán Lê Công Quý. (Hình: Quý Lê)

Từ năm thứ 3, Lê Công Quý đã xin vào làm thực tập tại hãng máy tính IBM. “Khi đó, họ ‘offer’ cho mình một giờ $20. Trời ơi, lúc đó mới thấy thiên đường là đây, thấy rõ cuộc đời mình đã thực sự đổi qua trang mới rồi.” Anh cười sảng khoái khi nhớ lại mức lương đầu tiên mình có bằng chính sức học của mình.

“Khi đã cầm được bằng đại học trong tay rồi, anh cảm thấy như thế nào?” Nghe tôi hỏi, anh nói khi đã thôi cười, “Cảm thấy chuyện học đại học không là gì hết. Nhưng ở thời điểm đó, lứa tuổi đó, chuyện vào đại học đối với mình lớn lao quá, thành ra nó thành một ám ảnh với mình. Và mình học, để chứng minh cho một điều tự bên trong là mình có thể học được, mình không dở. Tôi từng hứa lấy được bằng đại học rồi có đi rửa chén cũng vui lòng mà. Ðôi khi tôi tự cười mình. Nhưng thực sự tôi tự hào về điều đó, nhờ đó mà tôi có sức lực để mà học.”

Tự hào về Ba

Có một điều, “vì là con sĩ quan” nên Dược Sĩ Ðoàn Trang Anh, Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng và kỹ sư Lê Công Quý “mới trải qua” nhiều điều mà không phải ai cũng phải chịu. Tuy nhiên, không ai trong số họ, vào thời điểm phải chịu những thiệt thòi bất công nhất, mảy may có trong đầu suy nghĩ “giận ba mình đã mang đến cho mình những bất hạnh này”.

“Không có ba tôi, làm sao tụi tôi qua được tới bên này để có được ngày hôm nay?” Anh Quý nhận xét.

Nhìn lại tất cả những gì mà mình đã làm được, Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng nói giản dị, “Ðó là nhờ ba tôi đã rèn luyện tôi từ nhỏ. Ba tôi là tấm gương lớn nhất của tôi.”

“Chưa bao giờ tôi cảm thấy oán trách vì ba tôi là sĩ quan nên tôi không được đi học đại học. Tôi chỉ có tự hào, rất tự hào về ba tôi. Trong tôi, hình ảnh ba lúc nào cũng oai hùng lắm!” Chị Trang Anh bày tỏ.

Như đã nói, cả ba người, Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng, kỹ sư Lê Công Quý, Dược Sĩ Ðoàn Quế Anh, không là những người thật đặc biệt, thật nổi tiếng. Nhưng họ đại diện cho số đông, số đông những người con của các sĩ quan VNCH, từng một thời phải chịu những kỳ thị, bất công, khi còn ở quê nhà.

Nhưng giờ đây, họ có quyền hãnh diện về mình lắm chứ. Và chúng ta cũng có quyền hãnh diện về họ.

@NguoiViet

Bí thư xử thiếu tướng: Ðòn độc của Nguyễn Bá Thanh

Vũ Quí Hạo Nhiên (Người Việt) – Vì bị chặn đường chuyển đi Hà Nội, viên bí thư chủ tịch Ðà Nẵng đánh đòn nặng nề để trả thù kẻ địch trong đó có cả một thiếu tướng công an. Ðiều này được tường thuật lại trong một công điện đánh đi từ Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Sài Gòn đề ngày 1 tháng 4, 2009, với tựa đề “Người khổng lồ chính trị thoát án tham nhũng, còn công an và phóng viên thì đi tù.

Vụ án xử Thiếu Tướng Trần Văn Thanh tới nay vẫn còn nhiều người nhớ. Ðó là phiên xử mà viên tướng công an, tuy đang bệnh hôn mê liệt giường, vẫn bị đẩy vào phòng xử với đầy đủ dây nhợ và máy trợ thở oxygen, để bị nghe tố cáo và tuyên án. Bàn tay đằng sau vụ xử dã man ấy được bức công điện khẳng định là ông Nguyễn Bá Thanh, chủ tịch Hội Ðồng Nhân Dân và bí thư Thành ủy Ðà Nẵng.

Gọi ông Nguyễn Bá Thanh là “người khổng lồ chính trị” là đúng. Vào đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1980, ông đi từ chức vụ phó bí thư huyện ủy leo dần lên tới chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân TP. Ðà Nẵng từ năm 1995 và nắm quyền tại đó cho tới nay, lúc đầu trong vai trò chủ tịch UBND, sau đó qua chủ tịch Hội đồng Nhân dân và bí thư Thành ủy. Là bí thư thành ủy, ông Thanh cũng trở thành ủy viên trung ương đảng.
 Ở Ðà Nẵng, Nguyễn Bá Thanh là một ông vua con. Quyền tổng lãnh sự Charles Bennett gọi ông này là “chủ nhân của đất và gió”. Ông kể lại:
 “Những nhà đầu tư phát triển địa ốc nào dại dột xây cất vườn tược trước khi hỏi ý Bá Thành là trồng cây gì và lối đi xây làm sao, chẳng hạn, sẽ bị đóng cửa và phải bới lên xây lại từ đầu.
 “Những nhà đầu tư nào không chịu nói chuyện trước với Nguyễn Bá Thanh từ trước khi nộp đơn, đều nói rằng họ chẳng bao giờ được cấp giấy phép,” công điện cho biết.
 Ông vua con còn đặt hàng một bài hát chính thức cho thành phố – công điện không nói tên, nhưng đó là bài “Ðà Nẵng tôi yêu” với lời thơ Nguyễn Bá Thanh. Bài hát này ca ngợi Ðà Nẵng, từ đất lên tới gió và tất cả mọi thứ ở giữa. Nhưng ở Ðà Nẵng người ta truyền miệng một bản “lời 2” trong đó nói tài sản của ông Thanh gồm từ đất lên tới gió và tất cả mọi thứ ở giữa, chừa lại một con chim. Con chim này, bản công điện viết, là tài sản ông Hoàng Tuấn Anh, chủ tịch UBND thành phố. (Ông Hoàng Tuấn Anh sau này là bộ trưởng Văn hóa Thể thao Du lịch.)
 Ngược lại, bức công điện viết, nếu nhà đầu tư nào chịu chơi đúng luật của Thanh, mọi loại giấy tờ sẽ dễ dãi và suôn sẻ, hơn tất cả chỗ nào khác tại Việt Nam. “Các nhà đầu tư ngoại quốc cho biết thành phố hứa hẹn rất nhiều và luôn giữ lời,” công điện viết. Ông Thanh được cho là không ăn hối lộ trực tiếp, mà làm giàu bằng cách mua rẻ đất của dân rồi bán lại cho các nhà đầu tư, theo lời giới làm ăn ở Ðà Nẵng thuật lại cho TLS Mỹ.
Tuy làm vua một cõi, nhưng ông Thanh vẫn muốn leo lên chức vụ cao hơn. Bản công điện cho rằng ông Thanh muốn đi, là vì không muốn bị ép về hưu khi nhiệm kỳ chấm dứt năm ông 57 tuổi và không thể ở lại thêm 5 năm nữa. Tuy nhiên, nhận định này của quyền TLS Bennett không đúng: Ông Thanh vẫn có thể ở lại thêm một nhiệm kỳ tới năm 62 tuổi, vì phải tới 65 tuổi mới đụng hạn hưu của một ủy viên trung ương.
 Ðường vào Hà Nội bị chặn 
Với ý đồ chính trị muốn leo cao nữa, ông Thanh biết rằng ông không thể ngồi mãi một chỗ không bước chân ra khỏi Ðà Nẵng. Cơ hội đến với ông năm 2008.
 Vào tháng 8 năm đó, chính quyền Việt Nam sáp nhập tỉnh Hà Tây (tự nó đã gồm hai tỉnh Hà Ðông và Sơn Tây thời xưa) vào thành phố Hà Nội. Chỉ qua một đêm, Hà Nội bỗng lớn lên gấp 3 lần diện tích cũ, và bỗng có một chỗ trống cho một phó chủ tịch phụ trách vùng đất mới sáp nhập.
 Theo lời công điện, ông Thanh vận động trung ương đảng để được đặt vào chỗ đó. Vào tháng 7 năm 2008, trong lúc chuẩn bị mở rộng Hà Nội, trung ương đảng đề nghị ông Thanh vào ghế phó chủ tịch mới có. Nhưng phía thành phố Hà Nội lại không thích bị một người từ nơi khác vào làm phó chủ tịch Hà thành. Ðể có thể vận động Bộ Chính Trị đi ngược lại “đề nghị” của trung ương đảng, họ lại lôi ra vụ án tham nhũng dính líu tới ông Thanh.
 Nhận định này của viên quyền tổng lãnh sự cần phải xét lại. Ghế phó chủ tịch, dù của thủ đô Hà Nội và phụ trách một miếng đất rộng lớn, vẫn không cao bằng ghế chủ tịch Ðà Nẵng. Khác với vị trí lúc đó của ông Thanh là chủ tịch Ðà Nẵng và ủy viên trung ương, nếu “xuống” ghế phó chủ tịch Hà Nội sẽ không thể là ủy viên trung ương.
Theo dư luận thời bấy giờ, cái ghế ở Hà Nội mà ông bí thư Thanh muốn, không phải là phó chủ tịch thành phố, mà là một chân đại biểu Quốc Hội.
 Dù vì động cơ nào, tin tức về vụ tham nhũng này được tuồn ra cho giới báo chí và blogger, kể cả báo Công An. Ông Thanh bị tố cáo nhận hối lộ 4 tỷ đồng Việt Nam (tương đương 200,000 đô la Mỹ) hồi năm 2007 khi giải tỏa đất. Tin tức cũng rộ lên về người dân oan viết thư tố cáo lên thủ tướng rồi bị chết bí hiểm.
Một doanh gia ngân hàng, người Singapore làm ăn tại Ðà Nẵng, giải thích về vụ này cho TLS. Theo ông này, tuy đảng Cộng Sản vẫn biết về sự tham nhũng của ông Thanh, nhưng họ sẽ không làm gì, thứ nhất là “vì mức độ tham nhũng của ông Bá Thanh không quá đáng và không ảnh hưởng tới sự phát triển của thành phố,” và thứ nhì là “ông chia phần làm giàu cho rất nhiều thế lực chính trị ủng hộ”.
 Chuyện tham nhũng ngày xưa bị đem ra xem lại, theo ông này, chỉ là vì quan chức Hà Nội không thích người ngoài nhảy vào nhận một chức vụ trong thành phố của họ. Và họ đã thành công. Bộ Chính Trị ra chỉ thị chính quyền Hà Nội mới chỉ gồm nhân sự chính quyền Hà Nội và Hà Tây cũ.
Khi trâu bò húc nhau, ruồi muỗi phải chết. Trong vụ này, “ruồi muỗi” không phải là từ chính xác để miêu tả nạn nhân – vì chính những nạn nhân cũng có thế lực

Ảnh: Tướng Trần Văn Thanh đang hôn mê bị đẩy ra tòa trên băng ca. (Hình: VNExpress)


Ngày 24 tháng 2 năm 2009, nhiều tháng sau khi ông Thanh đã lỡ chuyến tàu ra Hà Nội, công an Ðà Nẵng ra tay truy tố nguyên chánh thanh tra Bộ Công An Việt Nam, Thiếu Tướng Trần Văn Thanh. Ông này là người đứng đầu cuộc điều tra vụ án tham nhũng.

 Ông Thanh bị tố cáo là đứng đầu một âm mưu triệt hạ uy tín lãnh đạo Ðà Nẵng. Ba con “ruồi muỗi” khác đã bị truy tố từ trước đó, gồm cựu thiếu tá công an Ðinh Công Sắt; trung tá công an Dương Ngọc Tiến là trưởng đại diện báo công an TP. HCM tại Hà Nội; và ông Nguyễn Phi Duy Linh, một người bạn thân của Tướng Thanh.
 Vụ án ông Sắt, ông Tiến, lẽ ra diễn ra tháng 9 năm 2008, nhưng bất ngờ vào tháng 8 năm đó (là lúc Hà Nội mở rộng) phiên tòa dời lại vì hai ông Sắt và Tiến đều khai ra người chủ mưu là Tướng Thanh.
Ông Sắt bị tố cáo “rải truyền đơn và tố cáo sai sự thật nhằm hạ uy tín lãnh đạo Ðà Nẵng”. Công điện không nói, nhưng theo đài RFA, những tờ “truyền đơn” này thật ra là công văn của Viện Kiểm Sát Nhân Dân thành phố Ðà Nẵng gửi Viện Kiểm Sát Nhân Dân tối cao và ông Phan Diễn (lúc đó là bí thư Thành ủy Ðà Nẵng). Cả hai công văn đều đề cập việc ông Nguyễn Bá Thanh nhận hối lộ 4.4 tỷ đồng trong các công trình xây dựng Cầu Sông Hàn và đường Bắc Nam ở Ðà Nẵng.
Ông Tiến và ông Linh bị tố cáo đã hỗ trợ cho ông Sắt trong việc phân phát những công văn này. Tội danh của họ là “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.
 Phiên tòa “dã man” 
 Phiên tòa mở màn tháng 7 năm 2009 tại nhà hát Trưng Vương. Khi đó, mặc dù Tướng Trần Văn Thanh bị tai biến, nhưng tòa vẫn ra lệnh phải đẩy ông này từ bệnh viện lên xe cứu thương đưa vào nhà hát, trong tình trạng hôn mê, phải thở bằng máy oxygen và phải truyền dịch. (Trong một bài viết mang tựa đề “Chánh án tòa Ðà Nẵng lập kỷ lục vi phạm nhân quyền” đăng trên Bô Xít Việt Nam và được đăng lại nhiều nơi, Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ gọi đây là “hành vi dã man chưa từng thấy trong lịch sử pháp đình hiện đại.”)
 Tướng Thanh là người gốc Ðà Nẵng và “có tiếng lương thiện,” bức công điện viết. Trước khi làm chánh thanh tra Bộ Công An, ông là giám đốc công an Ðà Nẵng. Bức công điện kể lại nguồn gốc vụ án tham nhũng:
 “Năm 2000, ông Thanh khi đó là đại tá bắt giữ một nhà thầu về tội hối lộ trong công trình xây dựng cầu sông Hàn. Nhà thầu này (công điện không nói tên, nhưng là ông Phạm Minh Thông) bị kết tội 13 năm tù.” Ông Thông khai là đã hối lộ cho Nguyễn Bá Thanh. Phía công an và viện kiểm sát muốn truy tố ông bí thư, nhưng không được.
Ông bí thư tìm cách trả thù, thì ông công an chạy ra khỏi Ðà Nẵng. Mặc dù bị chủ tỉnh đì, ông công an Thanh ra được Hà Nội, được lên lon, và trở thành chánh thanh tra. Ông Tướng Thanh trở thành công cụ lý tưởng để kẻ thù ông bí thư Thanh lôi kéo.
Ðiều xui xẻo cho ông công an Thanh, là cuộc điều tra đã không được chuẩn bị đúng luật. Bức công điện nêu thí dụ: “Trong cuộc điều tra năm 2000, Tướng Thanh là người trực tiếp lấy cung nhiều nhân chứng quan trọng chống ông Bá Thanh, kể cả ông nhà thầu.” Nhưng thay vì cho người khai viết tay biên bản, ông cho đánh máy biên bản rồi cho nhân chứng ký tên.
Mặc dù đây là chuyện ai cũng làm, “nhưng riêng trong vụ này, điều này khiến Tướng Thanh bị hở sườn”. Khi người của Bí thư Thanh nói chuyện thẳng với những nhân chứng này, “phép lạ” là họ đều lắc đầu và chối rằng ông Tướng Thanh tự ý đánh máy tờ khai rồi ép họ ký.
Ông tướng, bị lôi vào tòa trên băng ca trong lúc hôn mê, thở bằng máy, đang truyền dịch, bị tuyên án 18 tháng tù treo. Lên phúc thẩm (cũng tại Ðà Nẵng), Viện Kiểm Sát yêu cầu đình chỉ vụ án với ông Tướng Thanh nhưng tòa phúc thẩm vẫn tuyên bố ông tướng có tội, chỉ giảm án xuống 12 tháng tù treo vì lý lịch tốt. Cuối cùng, phải tới khi Tướng Thanh gởi đơn lên giám đốc thẩm, ông mới được tuyên bố vô tội.
Cựu Thiếu Tá Ðinh Công Sắt bị tuyên án 12 tháng tù treo. Trung Tá Dương Ngọc Tiến bị 17 tháng 5 ngày tù, ngang với thời gian tạm giam. Ông Nguyễn Phi Duy Linh bị 36 tháng tù.
Mục đích? Dằn mặt công an nhúng tay vào đấu đá 
 Vụ án “dã man” nhưng rồi kết thúc với những án treo dành cho công an, được viên quyền tổng lãnh sự cho là một hành động dằn mặt. Ông Bennett nói không ai thắng trong vụ. Thua nặng nhất là báo chí, “Như vụ PMU 18, báo chí nằm trong hạng ‘ruồi muỗi’ bị giết trong vụ húc nhau của người khổng lồ.”
 Quyền TLS Bennett cho rằng mặc dù Bí thư Thanh tạm thắng, ông vẫn bị dừng chân tại chỗ ở Ðà Nẵng. “Vì có tiếng tham nhũng và tương đối bị cô lập ở Ðà Nẵng, nếu ông không tìm được đường tới thì có thể gặp nguy khi quyền lực và ảnh hưởng của ông bị thuyên giảm.”
Nhưng lý do ông Bí thư Thanh truy tố được một tướng, một nhân vật của Bộ Công An, là vì ông lôi kéo được thành phần lãnh đạo đảng Cộng Sản là phải duy trì nguyên tắc quan trọng về vai trò của công an trong hệ thống cộng sản. Công điện viết:
 “Sau khi bị thua nhục nhã tháng 7 năm 2008, ông (Bá Thanh) muốn trả thù và thuyết phục được các nhân vật cao cấp khác trong ÐCSVN là, cũng như trong vụ PMU 18, Bộ Công An và báo chí bị dạy cho bài học là không được nhúng vào các cuộc tranh chấp chính trị nội bộ.”
Nói cách khác, phe phái trong đảng cộng sản có thể đấu đá nhau, nhưng các loại công cụ như công an, báo chí, không được dính vào.

—————————————-

Xét xử lại vụ án nguyên thiếu tướng Trần Văn Thanh

TTO – Nguồn tin của Tuổi Trẻ cho biết ngày 22-6, TAND tối cao tại Đà Nẵng sẽ đưa ra xét xử lại vụ án thiếu tướng Trần Văn Thanh (59 tuổi, nguyên chánh thanh tra Bộ Công an).

Trước đó, liên quan đến vụ án Trần Văn Thanh phạm tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, hội đồng thẩm phán TAND tối cao đã ra quyết định giám đốc thẩm ngày 19-7-2011.

Theo đó, hủy bản án hình sự phúc thẩm ngày 7-12-2009 của tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Văn Thanh và bị cáo Nguyễn Phi Duy Linh. Đồng thời giao hồ sơ vụ án cho tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản án sơ thẩm số ngày 7-8-2009, TAND TP Đà Nẵng đã xử phạt Trần Văn Thanh 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Phi Duy Linh, Dương Tiến và Đinh Công Sắt.

 Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Văn Thanh, Nguyễn Phi Duy Linh và Dương Tiến kháng cáo kêu oan.
 Đến ngày 7-12-2009 tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đã xử phạt Trần Văn Thanh 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đồng thời giữ nguyên các quyết định về tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Phi Duy Linh và Dương Tiến.
 Sau khi xét xử phúc thẩm, bị cáo Trần Văn Thanh có nhiều đơn kêu oan đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.
 Sau đó, Viện KSND tối cao kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm ngày 7-12-2009 của tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng và bản án hình sự sơ thẩm TAND TP Đà Nẵng đối với Trần Văn Thanh.
 Viện KSND tối cao đề nghị hội đồng thẩm phán TAND tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tuyên hủy phần quyết định của bản án hình sự phúc thẩm và phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên đối với bị cáo Trần Văn Thanh không phạm tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” và đình chỉ vụ án đối với Trần Văn Thanh.
 HỮU KHÁ

 

Nguyễn Gia Kiểng – Một thời điểm trọng đại trong lịch sử thế giới và Việt Nam

Nguyễn Gia Kiểng
“…Dân chủ thắng không phải
vì có bạo lực, mà vì không gì mạnh
bằng một ý kiến đã chín muồi…”

Thưa quí vị và các anh chị em,

Để mở đầu phần thảo luận hôm nay trước hết xin chia sẻ với quí vị và các anh chị em một cảm giác của anh em chúng tôi trong Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên và của chính tôi. Đó là rất có thể người Việt Nam chúng ta chưa ý thức được rằng chúng ta đang đứng trước một vận hội lịch sử rất lớn. Một làn sóng dân chủ mới rất mãnh liệt đang dâng lên. Nó sẽ thay đổi hẳn bộ mặt của thế giới và cho chúng một cơ hội để bước vào kỷ nguyên thứ hai của lịch sử nước ta, kỷ nguyên dân chủ.

Sở dĩ chúng tôi có cảm giác đó là vì chúng tôi chưa nhận thấy một khí thế phấn khởi, bồn chồn, lo lắng, hy vọng đáng lẽ phải có. Nhiều người hình như không thấy rằng một làn sóng dân chủ mới đang dâng lên. Trong số những người nhìn thấy thì phần đông tự hỏi không biết là sóng dân chủ đó có tràn tới Việt Nam hay không và câu trả lời không hẳn là lạc quan.

Câu hỏi làn sóng dân chủ mới có tràn tới Việt Nam hay không chỉ có thể trả lời một cách thỏa đáng nếu chúng ta hiểu như nhau thế nào là một làn sóng dân chủ, bản chất và tác động của nó ra sao. Vậy thì tôi xin phép quí vị và các anh chị em trình bày lại một lần nữa thế nào là một làn sóng dân chủ.

Lịch sử thế giới xét cho cùng là cuộc hành trình cùa con người về tự do. Lịch sử cũng là cuộc hành trình của các dân tộc về dân chủ, vì dân chủ là phương thức tổ chức xã hội đặt nền tảng trên cá nhân và các quyền tự do cá nhân. Dân chủ là cách thể hiện tự do trong đời sống xã hội. Đây là cuộc hành trình rất khó khăn bởi vì cho tới cuối thế kỷ 18, trừ một vài ngoại lệ nhỏ, nhân loại đã chỉ biết đến các chế độ chuyên chính, thông thường là các chế độ quân chủ thần quyền. Dân chủ từ khi ra đời đã không ngừng bị sự phản công của các thế lực chuyên chính để dập tắt dân chủ bằng bạo lực và phủ nhận dân chủ bằng lý luận. Hai mặt trận chống dân chủ này luôn luôn và bắt buộc đi đôi với nhau, vì chế độ chính trị nào cũng phải đặt trên hai cột trụ thuyết phục và khuất phục, trong đó thuyết phục là chính. Thuyết phục để khỏi phải dùng tới bạo lực, bạo lực chỉ dùng để khuất phục những phần tử không thể thuyết phục.

Do sự chống đối gay gắt đó, dân chủ không tiến triển một cách đều đặn mà theo từng đợt, mỗi đợt nhắm bác bỏ một chủ nghĩa và đánh đổ một số chế độ độc tài lấy chủ nghĩa đó làm nền tảng hoặc nhờ chủ nghĩa đó mà tồn tại. Ngược lại, các chế độ độc tài cũng chống trả một cách dai dẳng, chúng không ngừng tìm kiếm những lập luận mới để thích nghi tối đa nền tàng lý thuyết với thực tại mới để tiếp tục tồn tại. Lịch sử đã chứng kiến các chế độ độc tài nhiều khi phản ứng một cách khá sáng tạo để từ khước dân chủ. Thí dụ như sau khi các chế độ quân chủ thần quyền sụp đổ, các chế độ Quốc Xã Đức, Phát Xít Ý và Quân Phiệt Nhật đã khai thác tối đa lòng tự hào dân tộc, trong khi các chế độ cộng sản khai thác chênh lệch giàu nghèo để tự cho mình vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh giai cấp. Trước mỗi đợt phản công của các thế lực chuyên chính như vậy dân chủ cần chứng tỏ sự đúng đắn của mình và cũng cần một thời giờ để tự cải tiến và thuyết phục. Cuộc đấu càng khó khăn vì đặc tính của dân chủ là từ khước chiến tranh và bạo lực. Vũ khí của dân chủ là thuyết phục chứ không phải là chiến tranh, vì vậy mà các làn sóng dân chủ chỉ dâng lên khi tâm lý thế giới đã chín muồi cho một thay đổi. Dân chủ thắng không phải vì có bạo lực, mà vì không gì mạnh bằng một ý kiến đã chín muồi.

Như vậy mỗi làn sóng dân chủ sẽ chỉ dừng lại sau khi ý thức hệ mà nó nhắm đánh đổ đã hoàn toàn sụp đổ cùng với các chế độ lấy nó làm nền tảng. Cũng có một số chế độ độc tài sống sót. Đó là những chế độ biết thích nghi với tình huống mới theo một trong hai kịch bản.

Kịch bản thứ nhất là chuyển hóa thực sự về dân chủ. Đó đã trường hợp của phần lớn các nước cộng sản Đông Âu sau 1990.

Kịch bản thứ hai là chấp nhận cởi mở một phần, từ bỏ một cách quan trọng ý thức hệ cũ và khai thác một khuynh hướng chính trị mới. Đó đã trường hợp của Trung Quốc và Việt Nam; cả hai chế độ đã theo phương châm “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình, bớt đề cao chủ nghĩa Mác- Lênin và chấp nhận “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trước đó các chế độ độc tài Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Châu Mỹ La Tinh cũng đã chuyển hướng lấy lập trường chống cộng sản làm lý do tồn tại sau thế chiến II. Kịch bản thứ hai này chỉ có thể diễn ra với điều kiện là vào lúc đó chế độ tìm được chỗ dựa ý thức hệ ở một khuynh hướng mới.

Trong lịch sử thế giới đã có ba làn sóng dân chủ. Chúng ta đang ở cao điểm của là sóng dân chủ thứ tư.

Làn sóng dân chủ thứ nhất, khởi đầu cuối thế kỷ 18 với cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ và cuộc Cách Mạng Pháp đánh đổ các chế độ quân chủ thần quyền, bắt đầu bằng các chế độ đặt nền tảng trên Thiên Chúa Giáo.

Làn sóng dân chủ thứ hai bùng lên cùng với Thế Chiến II đánh gục chủ nghĩa dân tộc sô vanh và các chế độ lấy nó làm cứu cánh.

Làn sóng dân chủ thứ ba xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản và chấm dứt chiến tranh lạnh. Nó bắt đầu bằng cách loại bỏ các chế độ độc tài sống nhờ chiêu bài chống cộng, sau đó đánh sập chủ nghĩa cộng sản và phong trào cộng sản thế giới.

Để hiểu làn sóng dân chủ thứ tư mà chúng ta đang chứng kiến trước hết cần hiểu tại sao làn sóng dân chủ thứ ba đã khựng lại. Đó là vì thế giới đã quá vui mừng sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ năm 1989 và nghĩ rằng dân chủ đã thắng. Nhiều người còn cho rằng lịch sử sắp chấm dứt; một trong những tác phẩm chính trị bán chạy nhất lức đó có tựa đề “Hồi kết thúc của lịch sử” (1). Thế giới cảm thấy quá nhẹ nhõm và mất cảnh giác. Điều này có thể hiểu được. Chiến tranh lạnh đã quá gay go và nguy hiểm. Lần đầu tiên nhân loại bị đặt trước nguy cơ có thể bị tiêu diệt trong kinh hoàng bằng vũ khí nguyên tử nếu chiến tranh lạnh biến thành chiến tranh thực sự.

Chính trong hơi thở phào nhẹ nhõm sau một giai đoạn quá căng thẳng đó chủ nghĩa thực tiễn (realism) đã nhanh chóng trở thành luật chơi trong bang giao quốc tế. Chủ nghĩa thực tiễn không mới. Nó là một thái độ chính trị đã có từ ngày có lịch sử. Nó có thể được định nghĩa một cách giản dị nhưng chính xác như một chọn lựa chính trị dành cho quyền lợi chỗ đứng trước hết và trên hết, nghĩa là mỗi khi có mâu thuẫn giữa quyền lợi và các giá trị đạo đức thì quyền lợi phải được dành ưu tiên. Nó đã từng mang những tên gọi giai đoạn khác nhau, tại các nước phương Tây trong thời kỳ chiến tranh lạnh nó là chủ nghĩa “thà đỏ còn hơn chết” (Plutôt rouge que mort, rather red than dead). Quyền lợi ở đây phải được hiểu là quyền lợi cụ thể và ngắn hạn, bởi vì mọi hành động xét cho cùng đều nhắm một lợí ích nào đó. Nhưng những lợi ích dài hạn có thể mâu thuẫn với quyền lợi ngắn hạn, điều mà những chính khách mị dân không nhìn thấy hoặc muốn nhìn thấy.

Đặc tính của chủ nghĩa thực tiễn là nhắm những quyền lợi trước mắt. Nó chỉ là một tên gọi khác của sự thiển cận. Chủ nghĩa thực tiễn đã bị các nhà lãnh đạo chính trị lớn nhận diện từ lâu và gạt bỏ một cách khinh bỉ; tuy vậy nó vẫn tồn tại vì có sự cám dỗ của một giải pháp dễ dàng. Và nó đã hồi sinh vì thế giới đã quá mệt mỏi sau chiến tranh lạnh và quá nhẹ nhõm sau khi bức tường Berlin sụp đổ.

Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1992 tại Mỹ Bill Clinton, một thanh niên trốn lính, đã đánh bại George Bush, một anh hùng của Thế Chiến II và một tổng thống lỗi lạc đã góp phần quyết định đánh gục khối cộng sản và chấm dứt chiến tranh lạnh. Khẩu hiệu của Clinton là “chỉ biết có kinh tế” (Economy, stupid !). Đó cũng là tên gọi mới của chủ nghĩa thực tiễn. Tại Pháp, từ năm 1993 đảng Tập Hợp Cộng Hòa của Jacques Chirac giành được đa số trong quốc hội và nắm chính quyền, năm 1995 Chirac đắc cử tổng thống. Chirac không những chỉ thực tiễn mà còn ve vãn các chế độ bạo ngược bằng cách công khai chống lại các đòi hỏi dân chủ tại các nước chưa phát triển.

Trong gần 20 năm áp dụng, chủ nghĩa thực tiễn đã bỏ qua các giá trị đạo đức và nhân quyền để bình thường hoá các chế độ độc tài bạo ngược đã rất chao đảo sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Các chế độ này không những được củng cố nhờ trao đổi thương mại với các nước dân chủ phát triển, mà còn liên kết với nhau và trở thành một đe dọa cho dân chủ và hòa bình. Quan hệ thương mại với các nước dân chủ đã không khiến các chế độ độc tài trở thành cởi mở và thân thiện, trái lại chỉ giúp chúng thêm sức mạnh để đối đầu. Lý do là vì ý thức hệ bao giờ cũng quyết định sự chọn lựa bạn và thù.

Về mặt kinh tế, ba đặc tính của chủ nghĩa thực tiễn là: nó tự nhiên dẫn tới chọn lựa kích thích tăng trưởng kinh tế bằng tiêu xài; nó tự nhiên dẫn tới thâm thủng mậu dịch và nợ công tại các nước phát triển; và nó là thả lỏng đầu cơ tài chính. Cuối cùng sau khi đã cứu vãn và tăng cường các chế độ cộng sản đáng lẽ phải sụp đổ nó dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế.

Làn sóng dân chủ thứ tư mà chúng ta đang chứng kiến chính là sự bác bỏ giận dữ, dứt khoát và vĩnh viễn chủ nghĩa thực tiễn. Nó sẽ chỉ dừng lại khi tất cả các chế độ độc tài sống nhờ chủ nghĩa thực tiễn đã chuyển hóa về dân chủ hoặc sụp đổ. Hiểu như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng nó không thể dừng lại ở biên giới Việt Nam và Trung Quốc mà sẽ cuốn đi cả hai chế độ độc tài này bởi vì cả hai đều đã chỉ sống sót và tồn tại nhờ chủ nghĩa thực tiễn.

Làn sóng dân chủ mới này đã bùng nổ một cách ngoạn mục và dữ dội tại các nước Hồi Giáo Bắc Phi và Trung Đông. Trong tương lai rất gần, chế độ độc tài Al-Assad sẽ bị đánh đổ và cả khối Ả Rập sẽ bước vào kỷ nguyên dân chủ. Tuy vậy sẽ là một sai lầm lớn nếu coi nó là một hiện tượng Hồi Giáo. Sở dĩ nó ngoạn mục và dữ dội tại các nước này là vì, ngoài vấn đề chung của các nước chưa có dân chủ các nước Hồi Giáo, còn có một vấn đề đặc biệt đáng lẽ đã phải giải quyết từ lâu nhưng vẫn chưa được giải quyết, đó là đưa Hồi Giáo ra khỏi chính trị và về địa vị của một tôn giáo. Mùa Xuân Ả Rập chỉ là một phần của một làn sóng dân chủ mới, làn sóng dân chủ đích thực nhất và toàn cầu nhất trong lịch sử thế giới.

Tại các nước dân chủ phát triển, nhất là Mỹ và Châu Âu, qua phong trào phẫn nộ (Mouvement des Indignés, Occupy Wall Street), nó đòi hỏi một cách cai trị lành mạnh hơn, đặt chính trị lên trên kinh tế và đặt kinh tế lên trên tài chính, tôn vinh sản xuất thay vì đầu cơ, giảm bớt chênh lệch giàu nghèo, chấm dứt thâm thủng mậu dịch và giảm nợ công; nó không chấp nhận đồng hóa quyền lực với mãi lực và đòi hỏi quyền lực phải thuộc về những người được dân bầu ra chứ không thể ở trong tay các ngân hàng. Tóm lại là vất bỏ chủ nghĩa thực tiễn và chọn lựa cho mọi vấn đề những giải đáp đúng đắn, dài hạn.

Tại Nga, Putin cho đến gần đây tưởng chừng như không lay chuyển được vì không hề gặp một sự chống đối nào, đang bị chống đối ngày càng mạnh. Tình hình có thể thay đổi rất nhanh chóng vì Putin là sản phẩm của chủ nghĩa thực tiễn. Một cách thực tiễn, sau quá nhiều năm bê bối và rối loạn dưới thời Yeltsin, người Nga đã mong muốn trước hết sự ổn định. Ngày nay họ đòi tự do và dân chủ.

Tại Trung Quốc, chủ nghĩa thực tiễn, ấn bản kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tích lũy đủ mâu thuẫn nội bộ để không thể tiếp tục. Vả lại chế độ cộng sản Trung Quốc đã chỉ sống sót nhờ chính sách đối ngoại thực tiễn Hoa Kỳ và Châu Âu. Cũng như các tập đoàn cầm quyền bạo ngược khác, nó đã được mặc sức đàn áp những tiếng nói phản kháng, tha hồ bóc lột công nhân và bất chấp môi trường để sản xuất thật nhiều với giá thật rẻ và xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Châu Âu.

Đó là hậu quả của chính sách đối ngoại thực tiễn của các nước dân chủ trong hơn hai mươi năm qua. Người ta hy sinh các giá trị đạo đức và nhân quyền, bỏ mặc hàng tỷ người dưới những ách thống trị dã man nhân danh kinh tế. Nhưng cuối cùng chủ nghĩa thực tiễn đã chỉ đem đến cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất, dài nhất và trầm trọng nhất trong lịch sử thế giới. Ngày nay nó đã phơi bày sự độc hại và bị bác bỏ.

Chế độ Trung Quốc sẽ thích nghi như thế nào? Bài toán dân chủ hóa Trung Quốc sẽ rất gay go vì gắn liền với sự thống nhất của Trung Quốc. Điều chắc chắn là Trung Quốc không còn chọn lựa nào khác hơn là dân chủ hóa.

Cũng cần nhận định là làn sóng dân chủ thứ tư đã bắt đầu tại Đông Á trước khi bùng lên tại Bắc Phi.

Nước Đông Á ổn vững nhất gần đây là Indonesia, nước Hồi Giáo lớn nhất và cũng là nước Đông Á đông dân thứ nhì. Lý do là vì Indonesia đã là một nước dân chủ ổn vững từ gần 15 năm qua.

Sinh hoạt chính trị đã sôi động tại Singapore ngay từ năm 2007 khi đối lập giành được trên 33% số phiếu trong cuộc bầu cử quốc hội. Trong cuộc bầu cử tháng 7-2011 đối lập dành được trên 40% số phiếu.

Tại Mã Lai, Liên Minh Vì Bầu Cử Lương Thiện, Bershi, đã thành hình ngay từ cuối năm 2006; trong hai năm 2007 và 2008 họ đã tổ chức được các cuộc biểu tình bất bạo động chống bầu cử gian trá với hàng chục ngàn người tham gia. Kết quả là trong cuộc bầu cử quốc hội 2008 đảng cầm quyền Mặt Trận Quốc Gia mất đa số 2/3 mà nó vẫn có từ 1969. Có rất nhiều triển vọng nó sẽ mất luôn đa số quá bán trong cuộc tổng tuyển cử năm tới.

Tại Mã Lai cũng như tại Singapore, dân chủ hình thức đang nhường chỗ cho dân chủ thực sự. Vào lúc này không ai còn có thế nói Singapore và Mã Lai là những chế độ không dân chủ. Cũng nên lưu ý là hai chính quyền Singpore và Mã Lai đã từng đề cao cái mà họ gọi là “những giá trị Châu Á” để từ chối thực hiện dân chủ một cách toàn diện. Chi tiết này quan trọng ở chỗ không còn ai nhắc đến “những giá trị Châu Á” này nữa.

Tại Thái Lan, dân chủ đã được thiết lập từ 1997 sau cuộc khủng hoảng Châu Á. Năm 2006 quân đội đảo chính và cầm quyền nhưng đã gặp sự chống trả mạnh mẽ và liên tục của các lực lượng dân chủ. Năm 2008 họ đã phải trao lại phần lớn quyền lực cho một chính quyền dân sự, để rồi phải triệt thoái hoàn toàn khỏi chính trị sau cuộc bầu cử tháng 7- 2011.

Nhưng biến cố ngoạn mục gần đây nhất đã xảy ra tại Miến Điện như chúng ta đều đã thấy. Một cách đột ngột chính quyền quân đội Miến đã tách hẳn khỏi ảnh hưởng Trung Quốc, phóng thích các tù nhân chính trị, bắt tay với Liên Minh Dân Chủ của Aung San Suu Kyi và tổ chức bầu lại một phần quốc hội trong đó Liên Minh Dân Chủ đại thắng, giành được 33 trong tổng số 34 đơn vị được bầu lại.

Biến chuyển tại Miến Điện không phải tình cờ, nó là thành quả phối hợp của áp lực thế giới, của nỗ lực mở rộng ảnh hưởng của Ấn Độ và của chiến lược tái khẳng định của Hoa Kỳ tại Châu Á. Điều này đặc biệt có ý nghĩa bởi vì Obama vốn theo chủ nghĩa thực tiễn, việc ông đổi thái độ chứng tỏ Hoa Kỳ đã có những lý do quan trọng để thay đổi chính sách đối ngoại.

Cũng thế, Ấn Độ cho tới nay vẫn theo đuổi một chính sách đối ngoại dè dặt, nay trở nên tích cực và thách thức đối với Trung Quốc, chắc chắn họ phải thấy được rằng bối cảnh thế giới đã thay đổi. Miến Điện chưa phải là một nước dân chủ nhưng trong một năm họ đã đi một đoạn đường dân chủ hóa dài và tiến trình dân chủ hóa không thể đảo ngược được nữa.

Còn Việt Nam?

Sau những chuyển biến vừa rồi Việt Nam trở thành nước độc tài duy nhất có tầm vóc trong khối ASEAN và sẽ ngày càng bị cô lập, có triển vọng còn bị lên án vì những vi phạm nhân quyền.

Ngoài sự kiện bị nhân dân thù ghét chính quyền cộng sản còn có những mâu thuẫn nghiêm trọng khác. Họ thách thức thế giới khi chà đạp các giá trị dân chủ và nhân quyền, nhưng lại lệ thuộc rất nặng nề vào thế giới. Tổng số xuất và nhập khẩu của Việt Nam gần bằng hai lần GDP (chính xác là 167%), một mức độ lệ thuộc ngoại thương chỉ thấy ở một vài nước rất nhỏ.

Đã thế kinh tế Việt Nam lại còn lệ thuộc vào thế giới một cách rất bênh hoạn vì, tuy là một kinh tế hướng ngoại dựa vào xuất khẩu, Việt Nam thâm thủng mậu dịch kinh niên. Thâm thủng mậu dịch sớm muộn cũng biến thành nợ nước ngoài nên con số nợ nước ngoài thực sự của Việt Nam chắc chắn phải nhiều lần lớn hơn con số chính thức 50 tỷ USD.

Chính quyền cộng sản Việt Nam dựa vào Trung Quốc nhưng Trung Quốc lại chính là nước chèn ép và gây thiệt hại cho Việt Nam nhất. Thâm thủng mậu dịch của Việt Nam chủ yếu là thâm thủng đối với Trung Quốc. Và dù muốn hay không cũng không thể dựa vào Trung Quốc được nữa bởi vì chính Trung Quốc đang sắp chao đảo, và chao đảo mạnh.

Ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam thực hiện chính sách toàn trị nhưng họ lại chỉ có những cấp lãnh đạo mờ nhạt. Con người nhiều quyền lực nhất, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, lại cũng là người bị thù ghét và khinh thường nhất. Họ cố bưng bít và xuyên tạc nhưng trong nước lại có tới 120 triệu điện thoại di động và 35 triệu người sử dụng internet và con số này tiếp tục tăng hơn 20% mỗi năm.

Những mâu thuẫn đó trong một bối cảnh kinh tế nguy ngập và nhân dân phẫn nộ vì tham nhũng, bất công và cướp đoạt; hàng triệu thanh niên tốt nghiệp đại học và cao đẳng không tìm được việc làm và hàng triệu dân oan bị cướp đất cướp nhà. Việt Nam có tất cả mọi yếu tố cần có cho một cuộc cách mạng. Và đàng nào thì làn sóng dân chủ này cũng không thể dừng lại ở biên giới Việt Nam. Logic của nó là quét sạch chủ nghĩa thực tiễn và đánh đổ mọi chế độ sống nhờ chủ nghĩa thực tiễn, mà chế độ cộng sản Việt Nam là một trường hợp điển hình. Nó chỉ có chọn lựa giữa thích nghi hoặc sụp đổ. Thay đổi nhất định phải đến.

Nhưng bao giờ dân chủ mới đến còn là một câu hỏi mà câu trả lời chủ yếu tùy thuộc trí thức Việt Nam. Cần nhắc lại một lần nữa là cuộc cách mạng đúng nghĩa nào cũng phải do trí thức khởi xướng và lãnh đạo. Chân lý này lại càng đúng trong kỷ nguyên tri thức này. Tất cả mọi điều kiện khách quan đã hội đủ cho cuộc cách mạng dân chủ, dân trí cũng đã chín muồi. Tiến trình dân chủ hóa Việt Nam giống như một con tầu mà tất cả đều đã sẵn sàng để khởi hành trừ đầu tầu. Đầu tầu đó là trí thức. Thảm kịch của chúng ta là thiếu một tầng lớp trí thức chính trị. Đó là một di sản văn hóa. Chủ nghĩa truyền thống của trí thức Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử chính là chủ nghĩa thực tiễn, nghĩa là đặt quyền lợi lên trên các giá trị đạo đức, sẵn sàng cúi đầu trước những kẻ có quyền lực, vì an ninh và lợi lộc. Đó chính là chủ nghĩa mà làn sóng dân chủ mới này muốn quét đi để làm sạch thế giới.

Giải pháp nào khi bắt buộc phải có đầu tầu nhưng đầu tầu lại không chạy? Có lẽ phải có một đầu tầu nhỏ để kéo cái đầu tầu này cho đến khi nó chuyển động và kéo đoàn tầu đi tới. Một cách cụ thể, đó là một đội ngũ nhỏ của những người dân chủ có quyết tâm và bản lãnh, những trí thức chính trị, kết hợp với nhau để động viên và lãnh đạo trí thức Việt Nam và buộc họ đảm nhiệm vai trò lịch sử. Với điều kiện là trí thức Việt Nam chấp nhận để được động viên và lãnh đạo, nghĩa là từ bỏ ít nhất một phần tập quán cúi đầu trước kẻ có quyền nhưng lại cứng đầu với kẻ có lý.

Nguyễn Gia Kiểng

(1) Francis Fukuyama – The end of history and the last man.

(Trích Phát biểu trong buổi hội luận “Đông Á và Việt Nam giữa làn sóng dân chủ thứ tư” do phân bộ Paris THDCĐN tổ chức ngày 17-06-2012 tại Paris).