Kinh ngạc tòa nhà bị đường cao tốc ‘chọc thủng’

Đất nước Nhật Bản luôn luôn có những điều thú vị, độc đáo không thể tìm thấy ở nơi khác.

Một trong những tòa nhà kỳ lạ gây sửng sốt ở Nhật Bản là Gate Tower Building ở Osaka. Tầng thứ 5, 6 và 7 của tòa nhà cao 16 tầng này bị chiếm dụng để những con đường cao tốc chạy xuyên qua. Bảng thông tin ở tầng trệt ghi rõ chủ thuê của 3 tầng này là tập đoàn Đường cao tốc Hanshin. Nếu bạn có cơ hội đến tham quan ngôi nhà này thì đừng có lo, bởi vì đương nhiên thang máy sẽ tự động bỏ qua 3 tầng này và cho bạn đi thẳng các tầng khác.

Thực tế, Gate Tower Building là kết quả của một thỏa hiệp bất thường giữa chủ đất và chính phủ Nhật. Để có được công trình độc nhất vô nhị này, năm 1983 tập đoàn Đường cao tốc Hanshin đã phải thương thuyết với chủ tòa nhà. Cuối cùng, sau gần 5 năm tìm kiếm giải pháp, vào năm 1992, tòa nhà đã ra đời với 3 tầng rỗng, cho phép đường cao tốc chạy qua như bây giờ


Cập nhật tin tức 28-1-2012

Việt Nam tăng cường xuất khẩu lao động trong năm 2012

Trà Mi-VOA – Thông tấn xã Bernama của Malaysia ngày 27/1 loan tin Cục Quản lý Lao động ngoài nước đề ra mục tiêu sẽ xuất khẩu 90.000 công nhân ra ngoại quốc làm việc trong năm nay, đặc biệt ưu tiên cho người lao động ở các khu vực nghèo của Việt Nam ra nước ngoài làm việc. 
 Thỏa thuận vừa mới ký liên quan đến việc Nhật Bản tuyển dụng nhân viên y tế Việt Nam mở thêm cơ hội mới cho người lao động trong nước có được các công việc lương cao trên thị trường việc làm của Nhật.
 Việt Nam loan báo sẽ tăng cường đào tạo tay nghề cho đội ngũ nhân công trong ngành chăm sóc sức khỏe và các lĩnh vực dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của các thị trường thường nhập khẩu lao động Việt Nam.
 Ngoài ra, chính phủ Việt Nam cũng cho biết sẽ nghiên cứu và phát triển thêm các thị trường mới nơi có các công việc theo mùa như Australia, New Zealand, Canada, Nga, Phần Lan, và Thụy Điển.
 Một trong số các khó khăn trong công tác xuất khẩu lao động là tình trạng lưu trú bất hợp pháp của công nhân Việt Nam sau khi hết hạn hợp đồng lao động.
 Mặt khác, chính sách xuất khẩu lao động của Việt Nam cũng bị giới bảo vệ nhân quyền chỉ trích khá nhiều. Theo Ủy ban Cứu người Vượt biển BPSOS, một tổ chức phi chính phủ và phi lợi nhuận của người Việt tại Mỹ và là thành viên của Liên minh Bài trừ Nô lệ mới ở Châu Á (CAMSA), nhiều công nhân xuất khẩu của Việt Nam là nạn nhân của tệ nạn buôn người.
 Giám đốc BPSOS, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, phát biểu với Ban Việt ngữ đài VOA:
 “Rất nhiều công ty xuất khẩu lao động đã lường gạt công nhân. Trong số 60 hồ sơ chúng tôi can thiệp liên quan đến trên 3.000 nạn nhân, chúng tôi đã gửi những thông tin này đến văn phòng Thủ tướng Việt Nam, Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội Việt Nam, nhưng họ không hề có một cuộc điều tra nào hết. Ngược lại, chính nạn nhân lại bị công an điều tra, bị những phái đoàn do Việt Nam gửi sang tận nơi trấn áp, hăm dọa, đến nỗi có người phải đi tị nạn, không dám về nước nữa. Chính quyền Việt Nam không những không bảo vệ mà còn hăm dọa nạn nhân, đồng thời tìm mọi cách bảo vệ cho những kẻ buôn người, trong đó có sự dính líu của rất nhiều tổ chức gọi là ‘công ty xuất khẩu lao động’, kể cả các công ty quốc doanh.”
 Theo thống kê của Cục Quản lý Lao động ngoài nước, trong năm 2011 vừa qua, Việt Nam gửi hơn 88.000 lao động sang các nước làm việc, tức vượt con số chỉ tiêu 87.000 do Quốc hội đề ra. Phần đông công nhân Việt được xuất khẩu sang các thị trường Nam Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan, và Malaysia.
 Nguồn: Bernama, Mywork.vn, VOA-interview/w Dr. Nguyen Dinh Thang
———————————————————————————————————–

Việt Nam mất cơ hội xuất cảng gạo cả 200 năm

Cuối thập niên 1980, Việt Nam bắt đầu xuất cảng gạo sau 25 năm đình trệ và nhiều năm phải nhập cảng để giải quyết nạn đói kém kéo dài.

Lịch sử xuất cảng hạt gạo Việt Nam trong ngần ấy thời gian cũng đã trải qua nhiều biến động, thăng trầm, từ 1.37 triệu tấn vào cuối thập niên 1980 cho đến năm rồi cũng chỉ mới đạt đến mức tối đa là 7.2 tấn.

Theo báo Dân Việt, hạt gạo Việt Nam vươn ra thế giới như một điều kỳ diệu vì phải khó nhọc lắm mới chen chân cùng các nước xuất cảng gạo hàng đầu thế giới trong thị trường đầy cạnh tranh hiện nay.

Tuy nhiên, giở lại lịch sử 200 năm trước, nhiều người dân Việt bùi ngùi tiếc rẻ cơ hội xuất cảng “ngàn năm có một” của hạt gạo Việt Nam.

Theo một tài liệu được báo Dân Việt trích dẫn, cách nay hơn 224 năm, đại diện thương mại Hoa Kỳ tại Pháp lúc đó là ông Thomas Jefferson lần đầu tiên xác định vai trò quan trọng của hạt gạo Việt Nam đối với người Hoa Kỳ.

Cũng theo tài liệu này thì Hoa Kỳ đã chú ý đến hạt gạo Việt Nam hơn 200 năm trước. Ông Thomas Jefferson còn tìm cách liên lạc với Hoàng Tử Cảnh – con trai của vua Gia Long đang ở Pháp lúc đó để xin một số hạt lúa giống Việt Nam.

Gạo Việt Nam tìm thị trường xuất cảng hiện nay không hề dễ dàng. (Hình: Báo Dân Việt)

Ðầu thế kỷ thứ XIX, dưới thời tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ – Thomas Jefferson, một thương thuyền được phái tới để thu thập tin tức về hạt gạo Việt Nam và thảo luận về việc Việt Nam xuất cảng đường và cà phê sang thị trường Hoa Kỳ.

Ðó là chiếc thương thuyền Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam nhưng không gặt hái được thành công vì người đại diện của họ không gặp được vua Gia Long. Thương thuyền sau đó quay sang Philippines.

Cũng theo tài liệu này, chiếc tàu buôn thứ hai của Hoa Kỳ cập cảng Việt Nam khoảng 16 năm sau để tìm mua nông sản, nhưng lại thất bại lần nữa.

Tài liệu nói rằng thuyền trưởng John White của con tàu Franklin chờ mãi không được sự phúc đáp đơn xin ghé bến thương cảng Sài Gòn. Cuối cùng thì ông John White cũng lại quày quả ra đi.

Chi tiết các sự kiện nói trên được Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton công bố trong chuyến thăm đầu tiên nước Việt Nam cộng sản của vị nguyên thủ Hoa Kỳ vào năm 2000. Trong bài nói chuyện với các sinh viên Việt Nam tại trường đại học quốc gia Hà Nội, Tổng Thống Bill Clinton còn tiết lộ rằng hạt giống gạo Việt Nam được ông Thomas Jefferson mang về Hoa Kỳ từ hơn 200 năm trước đã được gieo trồng tại một trang trại ở tiểu bang Virginia.

Bài viết đăng trên báo Dân Việt bày tỏ nỗi ngậm ngùi tiếc rẻ vì Việt Nam đã đánh mất những cơ hội giao thương ngàn năm một thuở với Hoa Kỳ và cho rằng “đến nay thì hạt gạo Việt Nam vẫn chưa lọt nổi vào danh sách những hàng hóa được nhập cảng và được ưa chuộng tại Hoa Kỳ.”

“Titanic Ý” đền bù thiệt hại cho nạn nhân

Một số hành khách của tàu Costa Concordia đồng ý nhận bồi thường 11.000 Euro (tương đương 14.500 USD).

Một số nhóm khách hàng đi trên con tàu xấu số của Italy Costa Concordia đã đồng ý thỏa thuận nhận bồi thường 11.000 Euro (tương đương 14.500 USD). Con tàu có đến 3.000 hành khách đã đâm vào tảng đá và lật ở gần hòn đảo Giglio vào ngày 13-1 vừa qua.
Tập đoàn Carnival, chủ tàu Costa Conconrdia đồng ý đền bù thiệt hại cho mỗi hành khách về các tài sản bị mất và tổn thương tâm lý. Ngoài ra, toàn bộ chi phí chuyến du lịch trên thuyền và phí tổn đi lại của nạn nhân cũng được chi trả. Hành khách bị thương về thể chất sẽ được chi trả theo thỏa thuận riêng từng cá nhân. Trẻ em sẽ nhận được mức đền bù tương đương như người lớn, và các hành khách sẽ nhận được tiền đền bù chỉ trong vòng 1 tuần sau khi đồng ý thỏa thuận.
 Hành khách nào chấp nhận mức đền bù trên sẽ từ bỏ mọi hành động pháp lý đối với tập đoàn Carnival.

Condacons – một nhóm khách hàng đã không ký vào thỏa thuận và gợi ý rằng các khách hàng không nên ký vào đó mà nên đi kiểm tra về mặt tâm lý xem có chịu tác động gì từ vụ tai nạn hay không. Nhóm này đang tập hợp chữ ký để yêu cầu mức bồi thường 125.000 Euro cho mỗi hành khách.
Không chỉ gặp rắc rối với hành khách, tập đoàn Carnival còn đối mặt với các thủy thủ sống sót từ vụ “Titanic Ý”. Họ bắt đầu khởi kiện do không được chuẩn bị kiến thức cũng như tâm lý đối phó với thảm họa, chìm tàu… Họ chưa qua lớp đào tạo hành động khi gặp chuyện khẩn cấp nào.
Luật sư của Gary Lobaton, một thành viên thủy thủ đoàn trên tàu Costa Concordia, cho biết trong một hồ sơ nộp tòa án rằng Gary không biết ứng phó thế nào khi tình huống khẩn cấp xảy ra. Vụ kiện đã thúc đẩy các nhà điều tra xác định lại liệu Carnival lệch có đi lệch các tiêu chuẩn an toàn quốc tế khi hoạt động tàu du lịch.
Vụ lật tàu đã làm 16 người chết và nhiều người mất tích.

Miến Điện mở ra trang sử hy vọng về dân chủ

Từ mười tuần lễ nay, chính phủ dân sự Miến Điện tiến hành một loạt cải cách chính trị tạo ra một luồng gió và hy vọng từng bước dân chủ hóa tại quốc gia Đông Nam Á này. Việc thả tù nhân chính trị, nối lại đối thoại với lãnh đạo phong trào dân chủ Aung San Suu Kyi, mời gọi các nhà đối lập lưu vong hồi hương cuối cùng đã tạo được sức thuyết phục đối với những nhà quan sát bi quan nhất về khả năng đổi mới tại Miến Điện. Thông tín viên Arnaud Dubus tại Bangkok, sau hơn 10 ngày quan sát nhất là tại Rangoon và thủ đô hành chính Naypyidaw, phân tích thêm trong phần phỏng vấn sau đây:

 RFI: Nhân chuyến công du của ngoại trưởng Pháp Alain Juppé tại Miến Điện , đồng nghiệp đã có dịp xuôi ngược từ Rangoon đến Naypyidaw , quan sát tận mắt, tiếp xúc với nhiều thành phần dân chúng xứ «ngàn ngôi chùa» này. Anh có cảm giác như thế nào? 
 Arnaud Dubus: Tại Rangoon, so với tình hình cách nay ba năm, chúng tôi nhận thấy ngay là đang có nhiều biến đổi. Một vài chi tiết thôi cũng đã phản ảnh được sự thay đổi này: thành phố sạch sẽ hơn, người dân vui vẻ thoải mái hơn, tươi cười nhiều hơn. Trong không khí có điều gì chứng tỏ niềm tin hy vọng trong dân chúng.
 Bên cạnh đó còn có những dấu hiệu hiển nhiên. Có thêm nhiều tờ báo mới góp mặt, tăng gấp đôi so với tình trạng ba bốn năm về trước, và tràn ngập hình ảnh của giải Nobel Hòa bình Aung San Suu Kyi, cũng như chân dung các nhà dân chủ có tiếng tăm khác như nghệ sĩ sân khấu Zargana hay cựu lãnh đạo phong trào sinh viên Min Ko Naing, những chuyện mà cho tới gần đây không ai có thể tưởng tượng.
 Một sự kiện ngoạn mục khác là khách sạn tại Rangoon đầy ắp du khách và doanh nhân đến nỗi khó tìm ra một phòng trống. Xe hơi lưu thông nhiều hơn và bắt đầu xảy ra hiện tượng kẹt xe hàng ngày.
 Tuy nhiên có một vấn đề làm dân chúng than phiền là vật giá quá cao, đồng lương không tăng. Đơn vị tiền tệ quốc gia kyat rất mạnh so với đôla Mỹ.
Hai mẹ con một công nhân ủng hộ viên Liên đoàn Quốc gia Vì dân chủ. 
Ảnh chụp ngày 15/01/2012. REUTERS/Stringer
RFI: Đồng nghiệp nhận định như thế nào về những cải cách của Tổng thống Thein Sein?
Arnaud Dubus: Một trong những câu hỏi mà chúng tôi thường nghe là “tại sao?”. Tại sao chính phủ Miến Điện cảm thấy có nhu cầu tiến hành cải cách chính trị trong khi mà chế độ này dường như sắp tiếp tục con đường của tập đoàn quân phiệt vạch ra sau cuộc bầu cử chẳng có gì là tự do và công bằng? Chắc chắn là phải có sự phối hợp của nhiều yếu tố và nguyên nhân phức tạp.
Một yếu tố quan trọng là chính phủ Miến Điện có mối ưu tư là làm sao phải cải thiện quan hệ với các nước Tây phương. Điều làm họ lo sợ nhất là bàn tay Trung Quốc thao túng kinh tế các tỉnh phía bắc.
Bên cạnh yếu tố chính trị này còn có một nguyên nhân nữa bắt nguồn từ nhân cách của Tổng thống Thein Sein. Ông tướng này được cựu lãnh đạo tập đoàn tướng lãnh Thein Swe đặt vào chức vụ tổng thống.
 Ông Thein Sein là một cựu tướng lãnh ít có tiếng tăm và nhiều người cho rằng ông là người được tướng Than Swe ủy nhiệm cầm quyền. Nhưng bây giờ người ta có thể nói rằng Thein Sein đã suy nghĩ rất nhiều về các vấn đề khó khăn mà đất nước của ông đã vấp phải trong nhiều năm dài trước tuyển cử tháng 11/2010, nhất là trong giai đoạn ông làm thủ tướng.
 Ông đã thấy rõ những gì ông cần phải làm, nhưng ông không có thực quyền để thi hành. Cho đến khi lên làm tổng thống và cảm thấy vị thế đủ vững chắc, thì Thein Sein nắm lấy cơ hội để thực hiện mong ước của mình.
Còn một yếu tố nữa đó là phong trào đối lập. Khi được trả tự do vào năm 2010, bà Aung San Suu Kyi (ảnh trái) rất chống chế độ này. Ngay khi được Tổng thống Thein Sein mời hội kiến, bà đã tỏ ra do dự rất nhiều trước lời mời gặp nhau tại thủ đô hành chánh Naypyidaw vào tháng 8 năm 2011 vừa qua. Bà cho rằng nhân vật này thuộc phe cứng rắn trong quân đội.
Cuối cùng bà nhận lời và nẩy sinh một sự cảm thông giữa hai người. Mối quan hệ này đã góp phần làm giảm căng thẳng giữa hai phe và giúp cho chính sách cải cách chính trị trở thành hiện thực.
RFI: Theo kế hoạch gọi là “dân chủ hóa” mà tập đoàn quân sự đưa ra cách nay ba năm sau cuộc nổi dậy của phong trào cách mạng “áo cà sa”, thì hiện nay Miến Điện đang ở giai đoạn nào? 
Arnaud Dubus: Đây mới chỉ là giai đoạn đầu. Bước đầu tiên trả tự do cho tất cả tù nhân chính trị đã hoàn tất mặc dù hãy còn một số trường hợp tranh cãi, do có sự bất đồng về định nghĩa tù nhân chính trị.
 Bước thứ hai là bầu cử bổ sung ngày 01/04/2012 chọn 48 đại biểu hai viện Quốc hội. Thử thách của cuộc bầu cử này là có trong sạch, có gian lận hay không?
Bà Aung San Suu Kyi rất có thể sẽ đắc cử vào Quốc hội. Sự hiện diện của đối lập tranh đấu tại quốc hội sẽ thúc đẩy các sáng kiến hợp lòng dân trong khi chờ đợi nhiệm kỳ mới vào năm 2015. Nếu mọi việc tốt đẹp thì cuộc bầu cử 2015 sẽ “đăng quang” tiến trình dân chủ hóa tại Miến Điện.
Lý do là không thể loại trừ nguy cơ tình thế đảo ngược. Chính sách cải cách chính trị không làm hài lòng những tướng lãnh thuộc xu hướng cứng rắn cũng như những người thân Bắc Kinh.
 Dường như đã có một âm mưu đảo chính bị lộ hồi đầu tháng Giêng. Guồng máy chỉ huy quân đội lập tức được cải cách cách sâu rộng vào giữa tháng Giêng. Con đường dân chủ do vậy còn dài và có nhiều chướng ngại.
 Đã thế, người ta còn biết rằng trọng trách này đặt trên vai của Tổng thống Thein Sein, một người có sức khỏe kém, mang trên người một máy trợ tim.
 RFI: Liên Hiệp Châu Âu bắt đầu giảm nhẹ cấm vận, cho phép giới lãnh đạo Miến Điện và gia đình quyền du lịch tự do trong khi chờ đợi những bước tiến bộ mới . Nếu tiến trình dân chủ hóa được củng cố thì tác động của nó sẽ như thế nào đối với Đông Nam Á? 
 Arnaud Dubus: Trong một thời gian rất dài, Miến Điện là một nhược điểm của hiệp hội ASEAN.
 Với những bước tự do hóa chính trị hiện nay, Miến Điện sẽ được Tây phương hỗ trợ trong giai đoạn chuyển tiếp. Tây phương sẽ trợ giúp trực tiếp bằng tài chính, bằng viện trợ nhân đạo cũng như qua trung gian của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, nhất là ASEAN có vai trò đối trọng với Trung Quốc.
 Sự kiện vào năm 2014, Miến Điện lên làm chủ tịch ASEAN càng làm cho Tây phương quan tâm đến quyền lợi của họ Đông Nam Á nhiều hơn.
 Một khi các biện pháp trừng phạt được cởi bỏ, doanh nhân Âu Mỹ sẽ đổ vốn đầu tư vào Miến Điện, tạo thêm nhiều vận hội mới cho doanh nghiệp ASEAN dù cho mức độ cạnh tranh cũng sẽ gay gắt hơn trước.
Tác động chính trị cũng không phải là ít. Cải cách chính trị tại Miến Điện sẽ làm công luận quan tâm hơn và theo dõi xem những chế độ độc tài cuối cùng trong ASEAN sẽ biến chuyển ra sao như là tại Việt Nam và Lào, với chế độ độc đảng và không chấp nhận đối lập chính trị.
@rfi

Trí thức

Tiến sỹ Nguyễn đình Đăng

Nguyễn đình Đăng tốt nghiệp đại học, tiến sĩ rồi tiến sĩ khoa học tại Liên Xô, từ năm 1995 đến nay anh làm việc tại Viện Nghiên cứu Vật lý Hóa học Riken ở Nhật. Bên cạnh đam mê khoa học, anh còn tự học hội họa, từng có nhiều cuộc triển lãm tranh tại Việt Nam và nước ngoài và nhận một số giải thưởng mỹ thuật.

Nguyễn Đình Đăng

Hồi còn là sinh viên năm thứ nhất (1976 – 1977) tại Đại học Tổng hợp Quốc gia Maxcơva [1], một lần ngay trong giảng đường vào giờ nghỉ, chúng tôi được yêu cầu khai lý lịch để nộp cho giáo vụ trường. Đến mục thành phần giai cấp của gia đình, tôi viết “trí thức” (интеллигенция), lại còn “trầm trọng” ghi chú “cha: thầy giáo, mẹ: bác sĩ” (отец – учителъ, мать – врач). Petya, cậu bạn Nga của tôi, thấy vậy bảo: “Ê, tiểu tư sản! Xoá đi mày! Ghi như tất cả chúng tao đây này: рабочий (lao động, công nhân).” Thấy tôi có vẻ băn khoăn, cậu ta giải thích: “Chúng tao gọi thầy giáo và bác sĩ là những người lao động trí óc (работники умственного труда).”

*

Phải nói thẳng một cách sòng phẳng như thế này. Trong lịch sử nhân loại chưa có một chế độ độc tài nào lại tôn trọng trí thức. Độc tài và trí thức không khác gì lửa và nước. Tần Thủy Hoàng từng ra lệnh đốt Kinh Thi và Kinh Thư, chôn sống hơn 460 Nho sĩ. Sa Hoàng Nikolai Đệ Nhị từng căm ghét trí thức đến nỗi muốn loại bỏ từ “trí thức” khỏi từ vựng của tiếng Nga: “Trí thức là một từ ghê tởm,” ông ta nói. Nhà độc tài kế tiếp ông, lãnh tụ cộng sản Lenin còn tiến một bước xa hơn khi đã không ngần ngại sử dụng một trong những từ thiếu sạch sẽ nhất để gán cho trí thức: Lenin gọi trí thức là cứt. Trong thư gửi Maxim Gorky ngày 15/9/1919, Lenin viết: “Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức – đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là cứt.[2].

Khác với từ intellectuals trong tiếng Anh, thường được dùng chủ yếu để chỉ những người có nghề nghiệp chuyên môn trong các lĩnh vực lao động trí tuệ nhằm phân biệt họ với những người lao động chân tay, khái niệm trí thức (интеллигенция) trong tiếng Nga được dùng cho tầng lớp của những người không đơn thuần chỉ có học và lao động trí óc, mà còn phải có tư duy phê phán, phải gánh vác những lý tưởng cao cả. Các tính năng chính của trí thức Nga trước cách mạng tháng 10 mang đặc thù của những cứu tinh trong xã hội, bao gồm: 1) sự quan tâm tới số phận của đất nước (trách nhiệm dân sự), 2) thái độ và hành động hướng tới phê bình xã hội, tới cuộc đấu tranh với tất cả những gì cản trở sự phát triển quốc gia (vai trò của những người gánh vác lương tâm xã hội), và 3) khả năng đồng cảm với những ai “bị xúc phạm và bị xỉ nhục” (cảm giác đồng cảm về đạo đức).

Vốn có truyền thống tự chịu trách nhiệm về tương lai của đất nước như vậy, nên một số trí thức Nga đã có ảo tưởng ngây thơ rằng họ có thể hợp tác với chính thể độc tài, thuyết phục những người cầm đầu để họ cải tổ theo chiều hướng tự do dân chủ. Họ chưa bao giờ thành công. Sau cách mạng tháng 10 Nga, các văn hào như Maxim Gorky và Vladimir Korolenko đã đích thân tới gặp Lenin với hy vọng thuyết phục ông ngừng khủng bố, nhưng họ đã thất bại.

Những người cầm đầu trong bộ máy quyền lực của chính thể cộng sản đã không bao giờ tha thứ thái độ “phản động” hay “phản cách mạng” của giới trí thức và đã nhanh chóng đàn áp họ. Thi sĩ nổi tiếng Nikolai Gumilev là nạn nhân đầu tiên. Năm 1921 ông đã bị buộc tội âm mưu chống lại chế độ Xô Viết và đã bị xử bắn. Cuộc đàn áp trí thức của chính quyền Xô Viết đã đẩy hàng loạt trí thức Nga di tản ra nước ngoài sau cách mạng tháng 10. Những đại diện xuất sắc của giới trí thức Nga thời đó, kể cả các triết gia và các văn hào lớn như Nikolai Berdyaev [3] – chủ bút tờ Vekhi (Вехи: Những cột mốc), cũng bị chính quyền trục xuất ra khỏi đất nước vào cuối năm 1922. Sự đàn áp này còn tiếp tục cho tới khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, với nhiều văn nghệ sĩ và trí thức bị tống giam, trục xuất, đày ải, trong đó có những cá nhân kiệt xuất như nhà vật lý Lev Landau (Nobel vật lý năm 1962, bị bắt giam 1 năm trong đợt thanh trừng 1936 – 1938), nhà thơ Iosif Brodsky (Nobel văn chương năm 1987, bị trục xuất năm 1972), nhà văn Alexandr Solzhenitsyn (Nobel văn chương năm 1970, bị bắt giam 11 năm tù 1945 – 1956, bị trục xuất năm 1974), nhà vật lý Andrei Sakharov (Nobel hoà bình năm 1975, bị bắt và bị quản thúc 6 năm 1980 – 1986),  v.v.

Dưới chính thể cộng sản, Đảng cộng sản cai trị toàn xã hội, không cho phép bất cứ đảng phái đối lập nào khác tồn tại, chưa nói cạnh tranh quyền lực, và thẳng tay trừng trị mọi tư tưởng khác quan điểm do đảng áp đặt, chứ chưa nói tới hành động, mà những người cộng sản cho rằng có thể đe doạ địa vị thống trị của họ. Chỉ riêng chế độ Stalin – người kế thừa Lenin – đã hành quyết và đầy ải đến chết hơn 20 triệu người [4], gấp đôi số nạn nhân đã chết trong các lò thiêu người và trại tập trung của phát-xít Hitler. Chính thể cộng sản quả thật là chính thể độc tài tàn bạo nhất trong thế kỷ thứ 20.

*

Bài học đau xót của trí thức dưới chính thể cộng sản đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã được lặp lại tại Việt Nam. Vào năm 1956, khi một số văn nghệ sĩ, luật sư, triết gia, bác sĩ, nhà giáo tại Hà Nội như Hoàng Cầm, Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, Phan Khôi, Tử Phác, Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, v.v. lên tiếng đề nghị Đảng cộng sản (lúc đó lấy tên là Đảng Lao Động Việt Nam) tôn trọng tự do sáng tạo, hành xử theo luật pháp v.v., họ đã bị đàn áp thẳng tay trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và vụ Nhân Văn Giai Phẩm là những đòn trí mạng giáng vào giới trí thức Việt Nam, và kết quả là đã “đào tận gốc trốc tận rễ” tầng lớp này trên miền Bắc. Còn sau năm 1975, Việt Nam là đất nước đã sinh ra cuộc di tản khổng lồ bằng thuyền khủng khiếp nhất trong lịch sử hiện đại [5] với hơn 1.6 triệu người bỏ quê hương di tản ra ngoại quốc, trong đó có hàng ngàn trí thức miền Nam [6].

Trên thực tế, nếu hiểu giới trí thức như khái niệm интеллигенция, thì Việt Nam từ đó không còn giới trí thức nữa. Thay vào đó, cụm từ “trí thức xã hội chủ nghĩa (XHCN)” đã ra đời tại miền Bắc XHCN, và sau đó cụm từ này đã chết yểu. Nó cũng tương tự như việc thay thế chủ nghĩa hiện thực trong văn học nghệ thuật bằng “hiện thực XHCN” tại Liên Xô trước đây mà nhiều nước trong khối cộng sản đã bắt chước. “Hiện thực XHCN” đã hoàn toàn phá sản sau khi Liên Xô sụp đổ. Câu chuyện tiếu lâm dưới đây, mà tôi từng được nghe trong thời sinh viên tại Liên Xô, đã nêu rõ thực chất của thứ “hiện thực” này.

Thành Cát Tư Hãn sau khi chinh phạt thế giới, đã trở thành bá chủ một đế quốc mênh mông trải dài từ bờ biển Đông tới lưu vực sông Danube. Tuy nhiên, trong một lần chinh chiến, ông ta đã bị mất một mắt. Có lần vị hoàng đế nhà Nguyên này ban lệnh tìm hoạ sĩ giỏi để vẽ chân dung cho mình. Hoạ sĩ thứ nhất được tiến cử tới yết kiến Thành Cát Tư Hãn, và đã vẽ hoàng đế nhà Nguyên với đầy đủ cả hai mắt tinh. Sau khi bức tranh được hoàn thành và được đem trình hoàng đế xem, Thành Cát Tư Hãn khinh bỉ nói: “Sao lại có cái thứ lãng mạn chủ nghĩa đồi bại thế này?”, rồi ra lệnh chém đầu hoạ sĩ. Hoạ sĩ thứ hai được vời tới. Rút kinh nghiệm thảm khốc từ hoạ sĩ trước, hoạ sĩ này đã vẽ Thành Cát Tư Hãn giống y như thực, tức là với một mắt tinh và một mắt chột. Thành Cát Tư Hãn liếc nhình bức tranh rồi phán: “Tự nhiên chủ nghĩa tục tằn!” Hoạ sĩ thứ hai cũng bị bay đầu. Hoạ sĩ thứ ba đã vẽ chân dung Thành Cát Tư Hãn en profil (chân dung nhìn nghiêng), chỉ thấy con mắt tinh, còn con mắt chột được che khuất trong nửa không nhìn thấy của khuôn mặt. Hoàng đế nhà Nguyên xem tranh và khen: “Đây mới thực sự là hiện thực xã hội chủ nghĩa!”, rồi truyền ban thưởng cho hoạ sĩ.

Trong tác phẩm “Trí thức và vai trò của nó trong quá trình văn hoá”, Vitaly Tepikin đã tổng hợp và đề xuất 10 dấu hiệu của giới trí thức hiện đại là [7]

1 – có lý tưởng đi trước thời đại, nhạy cảm với người xung quanh, lịch sự nhũn nhặn trong biểu hiện;

2 – tích cực lao động trí óc và liên tục tự học;

3 – ái quốc dựa trên niềm tin vào nhân dân và có tình yêu quê hương sâu sắc;

4 – sáng tạo không mệt mỏi và có lối sống giản dị đến khổ hạnh;

5 – độc lập, có khát vọng đạt tới tự do biểu hiện, và tìm thấy mình trong khát vọng đó;

6 –  có quan hệ phê phán đối với chính quyền, lên án mọi biểu hiện của bất công, vô nhân đạo, phản nhân văn, phản dân chủ;

7-  trung thành với niềm tin do lương tâm mình mách bảo, ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất, kể cả phải hy sinh quyền lợi bản thân;

8 – nhận thức thực tế một cách mơ hồ, dẫn đến dao động về chính trị và đôi khi có biểu hiện bảo thủ;

9 – Có niềm oán hận lớn trước những gì không thực hiện được trên thực tế hoặc trong tưởng tượng, kết quả là đôi khi trở nên hoàn toàn khép kín tự cô lập mình;

10 – Các nhà hoạt động chuyên môn trong các lĩnh vực khác nhau, và ngay cả trong cùng một lĩnh vực, thường hiểu lầm nhau, hậu quả là đôi khi nổi cơn ích kỷ hoặc bốc đồng.

Tepikin cho rằng một cá nhân có ít nhất một nửa số dấu hiệu trên đây có thể được gọi là “trí thức theo nghĩa đại khái của từ đó”. Chuyển sang ngôn ngữ Việt Nam đương đại, có thể tạm gọi những người thoả mãn 5/10 biểu hiện nêu trên là các “trí thức dự khuyết”.

Trong giới những người (thực sự) có học vấn của Việt Nam, đại đa số chắc hội đủ ba dấu hiệu cuối (8 – 10). Những người khoa bảng mà lúc đầu từng hoạt động chuyên môn nhưng sau bỏ để ra làm quan thì khó có thể giữ được các dấu hiệu 2, 4 – 10, nếu không nói rằng hai dấu  hiệu còn lại (1 và 3) đối với những người này không phải lúc nào cũng đáng tin cậy.

*

Tương truyền, trong một lần thuyết giảng, triết gia cổ Hy Lạp Plato đã định nghĩa “con người là một động vật đi bằng hai chân và không có lông vũ.” Diogenes – một triết gia cổ Hy Lạp khác –  nghe vậy bèn bắt một con gà, vặt sạch lông, thả vào giảng đường, rồi nói: “Các người hãy nhìn kìa, đó là Con Người theo định nghĩa của Plato!” Nghe nói Plato sau đó đã phải thêm “có móng rộng và bẹt” vào định nghĩa “Con Người” của mình.

Gẩn đây có một vài ý kiến của một số “Plato Việt Nam” muốn xác định lại các tiêu chí thế nào là trí thức. Ngay lập tức họ được các “Diogenes Việt Nam” lên tiếng sửa gáy. Đội quân các “Diogenes Việt Nam” rất hùng hậu, có tới cả ngàn. Thay vì sống trong thùng tô nô, họ sống trong các blog. Họ cũng không xách đèn đi tìm người lương thiện giữa ban ngày [8], bởi dường như đã biết trước câu trả lời. Họ lại càng không có cơ hội để làm như Diogenes khi gặp Alexander Đại Đế. Theo sử gia Plutarch, khi Alexander Đại Đế tới Corinth, những người đứng đầu thành phố và các triết gia đã lũ lượt kéo nhau tới yết kiến Alexander, chỉ riêng Diogenes vắng mặt. Alexander bèn đích thân đi tìm Diogenes, và thấy ông này đang nằm dài sưởi nắng bên cái thùng ông dùng làm chỗ ngủ. Khi Alexander Đại Đế hỏi: “Hỡi nhà hiền triết, ngươi có muốn ta làm gì giúp ngươi không?”, Diogenes đã trả lời: “Ngài hãy đứng tránh sang một bên để khỏi che lấp ánh mặt trời của tôi.” Các triết gia và đám tùy tùng của Alexander Đại Đế nghe vậy cười phá lên, trong khi chính Alexander Đại Đế nói: “Nếu ta không phải là Alexander thì ta đã là Diogenes.”

Giovanni Battista Tiepolo, “Alexander Đại Đế và Diogenes”, sơn dầu, 47 x 60 cm (1770). Bảo tàng Cung điện Yusupov tại Saint Petersburg.

Tới đây tôi chợt nhớ tới ca từ trong một bài hát của nhóm hip hop Dead Brez:

Bạn muốn có một chiếc Lexus hay Công Lý?

Một ước mơ hay của cải?

Một chiếc BMW, một chuỗi hạt xoàn, hay Tự Do? [9]

Ca từ này đúng hơn bao giờ hết tại Việt Nam đương đại. Rõ ràng bạn không thể vừa được người ta cấp xe sang (hay tặng nhà to) lại vừa có Tự Do (hay Công Lý). Bạn chỉ có thể chọn một trong hai thứ đó. Lập luận rằng cưỡi xe BMW mới tiến được hoặc tiến nhanh hơn tới Công Lý (hay Tự Do) là ngụy biện, tự dối mình và lừa dối người khác. Đặc biệt, nếu bạn là một người lao động trí óc theo một chuyên môn nào đó, việc bạn chọn cái gì sẽ tự động xếp bạn vào hàng ngũ những “trí thức dự khuyết”, hay vào đám học giả xu thời đang ngày càng lạm phát trên đất nước này.

Tokyo, 25/1/2012


[1] Tên đầy đủ Đại học Tổng hợp Quốc gia Maxcơva mang tên M.V. Lomonosov (Московский Государственный Университет имени М.В. Ломоносова), viết tắt là MGU (МГУ).

[2] Nguyên văn tiếng Nga: “Интеллектуальные силы рабочих и крестьян растут и крепнут в борьбе за свержение буржуазии и ее пособников, интеллигентиков, лакеев капитала, мнящих себя мозгом нации. На деле это не мозг, а говно”. Trích từ V.I. Lenin, Thư gửi A.M. Gorky ngày 15/9/1919, Toàn tập, Tái bản lần thứ 5, NXB Văn học Chính trị, 1978, tập 51, trang 48-49 (В.И. Ленин, Из письма А.М. Горькому от 15 сентября 1919 года, Полное собрание сочинений, издание пятое Изд-во политической литературы, 1978 г. т. 51, стр. 48-49) (Xem bản tiếng Anh tại đây)

[3] Nikolai Alexandrovich Berdyaev (Николaй Алексaндрович Бердяев) (1874 – 1948) – triết gia Nga; thời Sa Hoàng, do tham gia nhóm Marxist nên từng bị bắt năm 20 tuổi và bị đày biệt xứ; năm 29 tuổi do chỉ trích Nhà Thờ Chính thống Nga nên bị kết tội báng bổ và bị đày đi Siberia; dưới thời Xô Viết do không chịu chấp nhận chính thể của đảng Bolshevik áp đặt sự thống trị của nhà nước độc tài lên tự do cá nhân, nên đã bị chính quyền Xô Viết trục xuất cùng hơn 160 nhà văn và học giả danh tiếng khác sang Đức bằng tàu thủy vào tháng 9/1922 (từ một danh sách gồm 280 người bị bắt trong đó có 32 sinh viên).

[4] New World Encyclopedia, http://www.newworldencyclopedia.org/entry/Great_Purges;

Heroes & Killers of 20the Century: Joseph Stalin: http://www.moreorless.au.com/killers/stalin.html

[5] Theo báo cáo của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, 1/3 số thuyền nhân  (boat people)  Việt Nam đã chết trên biển vì bị giết, bão, bệnh tật, đói. Thống kê của Cao ủy này cho biết chỉ riêng năm 1981 có 15095 thuyền nhân  Việt Nam đã vượt biên từ Việt Nam tới được Thái Lan trên 455 thuyền. Trong số đó có 352 thuyền (77%) bị bọn hải tặc tấn công. Số vụ tấn công là 1149 tức trung bình mỗi chiếc thuyền bị hải tặc tấn công hơn 3 lần. 571 người Việt Nam đã bị hải tặc giết. 599 phụ nữ Việt Nam đã bị hải tặc hãm hiếp. 243 người Việt Nam đã bị bắt cóc.

[6] Postwar Vietnam: Dynamics of a transforming society, Ed. Hy V. Luong, (Rowman & Littlefield Publishers Inc., 2003).

[7] Виталий Тепикин, Интеллигенция, ее роль в культурном процессе. Vitaly Tepikin là tiến sĩ lịch sử, chuyên gia về lý thuyết và lịch sử trí thức, giáo sư thuộc viện Tri thức khoa học tự nhiên Nga (Российская академия естествознания).

[8] Diogenes từng xách đèn đi ngoài phố giữa ban ngày. Khi được hỏi làm gì đấy, ông trả lời: “Tôi đi tìm một người lương thiện.” Tương truyền ông chỉ gặp toàn bọn bất lương và vô lại.

[9] Nguyên văn: You would rather have a Lexus or Justice? A dream or some substance? A Beamer, a necklace or Freedom?

@NguyendinhDang Blog