Đọc thơ lục bát : Xin em đừng mặc áo dày

Cho tôi sờ áo một lần

Đêm nay bất chấp tử thần gọi tên

Một lần thôi chẳng vòi thêm

Chạm tay vạt áo khát thèm đã tan

Đã âm thầm nỗi yêu khan

Một phen mó áo vô vàn ngẩn ngơ

Hãy tin những tín đồ thơ

Yêu chay nên chỉ dám sờ áo thôi

Ngón tay ngọng mấy đốt rồi

Kể là chín ngón hỏng mười cũng xong

Áo gì cứ mỏng mòng mong

Kiểu này rồi đến phải lòng mất thôi

Rủi mai hóa cát bụi rồi

Hú hồn đốt mã cho tôi áo này

Vía van lang bạt cõi mây

Thương tôi đừng mặc áo dày được không

Văn Thùy

Án Lệ Hoàng Khương

Huy Đức
Hoàng Khương (ngồi giữa) bị công an dẫn đi - Ảnh: D.Đ.Minh
   Sự kiện Hoàng Khương bị bắt, chiều 2-1-2012, rồi sẽ trở thành một trong những trường hợp điển cứu liên quan đến đạo lý và pháp lý trong nghề báo. Từ một hành vi cụ thể – thông qua hai người môi giới, Hoàng Khương đưa 15 triệu cho thượng úy Huỳnh Minh Đức để lấy chiếc xe mô tô bị công an tạm giữ vì “đua xe trái phép” – có hai khả năng xảy ra: Hoàng Khương đưa hối lộ rồi “lợi dụng cương vị của mình để viết bài”; Hoàng Khương đã gài bẫy để làm lộ ra đường dây hối lộ.

Báo chí ngày 3-1-2012 lấy thông tin từ cơ quan điều tra đã dẫn dắt dư luận hiểu theo hướng thứ nhất. Nội vụ quả là cũng có không ít yếu tố bất lợi cho anh. Trần Minh Hòa, người có xe mô tô bị tạm giữ vì đua xe trái phép là bạn của Nguyễn Đức Đông Anh, theo công an, “cũng là đối tượng đua xe” và là em vợ của Hoàng Khương. Hòa nhờ Đông Anh lấy xe, Đông Anh đồng ý và về nhờ Hoàng Khương lo dùm. Đầu tháng 6-2011, Hoàng Khương đã nhờ Tôn Thất Hòa lo giùm nhưng không được. Tháng 7-2011, khi viết hai bài báo “Xử lý vi phạm giao thông: Trăm sự nhờ cò” và “Có móc ngoặc”, Hoàng Khương gặp lại Tôn Thất Hòa.

hoang_khuong.jpg

Nhà báo Hoàng Khương

Sáng thứ Bảy ngày 25-6-2011, sau khi chi “3 chai” cho Thượng úy Huỳnh Minh Đức giúp một chủ xe đầu kéo lấy xe ra sớm và không bị giam bằng lái xe, khoảng 12 giờ trưa, Tôn Thất Hòa kêu Huỳnh Minh Đức ra quán “Vườn xưa”, uống bia và nhờ Đức lấy giúp chiếc xe Trần Minh Hòa. Hòa điện kêu Hoàng Khương lên. Ngay tại bàn nhậu, Hoàng Khương đưa biên bản cho Đức đọc, đưa gói tiền cho Tôn Thất Hòa, Hòa mở đếm thấy đủ 15 triệu, đưa hết cho Huỳnh Minh Đức. Một tuần sau đó, theo công an: “Vì Đức chỉ mới giao xe chứ không trả Giấy đăng ký xe nên Tôn Thất Hòa đã nhiều lần gọi điện thoại cho Huỳnh Minh Đức đe dọa nếu không trả giấy đăng ký xe thì Phóng viên Hoàng Khương sẽ viết báo tiếp, còn trả giấy đăng ký xe thì Hoàng Khương sẽ chỉ viết một bài đầu”. Công An cho rằng Hoàng Khương và Tôn Thất Hòa đưa tiền với mục đích lấy xe, nhưng khi Huỳnh Minh Đức không trả lại giấy tờ thì Hoàng Khương đã lợi dụng cương vị của mình để viết bài, đăng báo.

Nếu như sự việc đúng như kết luận này thì Hoàng Khương không chỉ vi phạm pháp luật mà còn vi phạm về đạo đức. Vấn đề là tại sao một phóng viên nội chính “khét tiếng” như Hoàng Khương không chọn cách nhẹ nhàng hơn, nhờ vả. Các phóng viên nội chính biết rõ, chuyện lấy một chiếc mô tô bị tạm giữ không phải là chuyện quá khó với Hoàng Khương.

Theo Hoàng Khương tường trình thì sự can dự một cách chủ động vào sự kiện trên đây của anh là nằm trong quy trình tác nghiệp để viết hai bài: “Đồng tiền xóa sạch hồ sơ” và “Giải cứu xe đua trái phép”. Trước đó, Hoàng Khương đã viết một loạt bài đăng trong tuyến bài “ngăn chặn hiểm họa tai nạn giao thông” do Tòa soạn triển khai từ tháng 5-2011. Hoàng Khương nói, anh đã mượn biên bản giữ xe mô tô của Hòa để photo từ trước khi gặp Tôn Thất Hòa. Ngày 24-6-2011, khi thu thập tư liệu về vụ tai nạn giao thông xảy ra đêm 23-6-2011 tại giao lộ Đinh Tiên Hoàng – Bạch Đằng, Hoàng Khương đã nhờ ông Tôn Thất Hòa liên lạc với ông Tuấn, chủ xe gây tai nạn dò hỏi thông tin. Khi biết thượng úy Huỳnh Minh Đức hẹn xử lý vụ tai nạn ở quán cà phê, Hoàng Khương xin đi theo.

Diễn tiến sau đó, theo tường trình của Hoàng Khương, cho thấy, anh đến để tác nghiệp chứ không phải để đưa hối lộ: Khương đưa máy ghi âm cho ông Tôn Thất Hòa nhờ ghi lại cuộc nói chuyện rồi ngồi ở bàn riêng để quan sát. Máy ghi âm của Khương ghi được tiếng thượng úy Đức ra giá và lấy của ông Tuấn 3 triệu đồng để lấy xe đầu kéo vừa gây tai nạn ra sớm; tiếng ông Đức chủ động gợi ý để ông dắt xe chở hàng quá tải qua chốt CSGT; tiếng ông Tôn Thất Hòa nhờ xử lý vụ xe mô tô của Trần Minh Hòa; tiếng Đức đồng ý và ra giá “10 chai” rồi họ hẹn nhau ra quán ăn trên đường D5.

Ở quán ăn “Vườn xưa”, tường trình của Hoàng Khương khác với thông tin mà báo chí nhận được từ công an: Anh đưa máy ghi âm cho ông Tôn Thất Hòa và ngồi đợi bên ngoài, khi ông Đức chạy xe máy tới, anh còn chụp mấy tấm hình làm tư liệu rồi ngồi trên xe chờ. Khoảng 20 phút sau, ông Hòa chạy ra kêu Hoàng Khương đưa tiền và giấy tờ lên. Do không liên lạc được với Trần Minh Hòa, theo Hoàng Khương, anh đã gọi người xe ôm quen về nhà em vợ là Nguyễn Đức Đông Anh để Đông Anh qua nhà Hòa lấy biên bản và tiền nộp phạt. Khi người xe ôm mang tiền, biên bản ra, Hoàng Khương gọi ông Tôn Thất Hòa ra lấy. Nhưng sau đó, ông Hòa ra gọi Khương vào. Đây là tình tiết đặt anh vào tình huống từ một người quan sát ở bên ngoài trở thành người ngồi chung bàn. Trước mặt Hoàng Khương, Thượng úy Đức mở biên bản ra đọc và nhẩm tính các mức phạt rồi nói giá tiền, tiếp đó, ông Hòa đếm tiền cho tới con số “mười lăm chai”. Khương dùng điện thoại chụp được cảnh ông Đức nhận tiền từ tay ông Hòa. Sau khi Trần Minh Hòa nhận xe. Khương còn tiếp tục tác nghiệp bằng cách phỏng vấn lãnh đạo Đội Cảnh sát Giao thông Bình Thạnh trước khi viết bài “giải cứu xe đua trái phép”.

Chắc chắn là còn những thông tin mà chúng ta chưa được biết, kể cả những đồn đoán về nhân thân của anh, nhưng trên cơ sở những gì có thể làm sáng tỏ, khả năng Hoàng Khương gài bẫy để có chất liệu cho các bài viết là đáng tin cậy hơn giả thiết anh viết bài sau khi mục đích hối lộ không đạt được. Hoàng Khương thừa biết, một khi những bằng chứng ấy được ém lại chúng có giá trị “trao đổi” cao gấp trăm lần khi công khai.

Vụ Hoàng Khương không chỉ liên quan đến uy tín của tờ Tuổi Trẻ, sinh mệnh pháp lý của Hoàng Khương và những người đã cộng tác với anh để có loạt bài “ngăn chặn hiểm họa tai nạn giao thông” mà còn có thể tạo ra “án lệ”. Sự lên tiếng của Tuổi Trẻ không chỉ bảo vệ một con người mà còn bày tỏ thái độ trước một “thủ pháp nghiệp vụ” đang được tranh cãi trong nghề báo.

Luật pháp cũng như thái độ xã hội ở ngay cả các nước có nền báo chí tự do cũng nhìn nhận hành vi gài bẫy khá khắt khe. Nhưng, hơn một thập niên trước đây, báo chí Mỹ, nơi coi “gài bẫy” là bất hợp pháp, cũng đã bắt đầu thay đổi cách nhìn nhận của mình. Bên cạnh “trường phái cổ điển”, cương quyết chỉ đứng ngoài sự kiện quan sát, tường trình, đã xuất hiện trường phái nhập cuộc. Ở Anh, việc gài bẫy được chấp nhận nếu nó giúp phanh phui sự thật về các chính khách và những người có ảnh hưởng đối với công chúng. Nếu Hoàng Khương đã gài bẫy thì hành vi của anh không phải là hối lộ mà là để làm lộ ra một đường dây hối lộ. Trên thực tế, trước khi nhận 15 triệu của Hoàng Khương, Thượng úy Đức đã nhận 3 triệu của ông Tuấn, chủ xe đầu kéo vừa gây tai nạn.

Luật pháp Việt Nam cấm các cơ quan tố tụng gài bẫy khi làm án. Nhưng, bóng dáng “Hoàng Khương” đã từng thấp thoáng trong vụ Phương Vicarrent hồi 2003 và vụ Nguyễn Hà Phan mới đây. Các phóng viên nội chính hiểu, tại sao các vụ án bắt mại dâm thường chỉ có hình các cô bán dâm mà không có hình khách mua dâm. Không thể chấp nhận nếu nhà báo gài bẫy các thường dân. Nhưng, nếu gài bẫy để lật mặt hành vi tham nhũng của những kẻ có chức, có quyền, thì cho dù không khuyến khích cũng không nên coi đó là tội phạm. Điều 8, Bộ Luật Hình sự quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm”.

Hành vi của Hoàng Khương chỉ nguy hiểm cho những kẻ tham nhũng chứ không hề nguy hiểm cho xã hội. Có thể, sau khi bắt Hoàng Khương trên báo chí chỉ còn tin cảnh sát giao thông trả lại tiền hối lộ chứ không còn “ăn” hối lộ. Nhưng, không phải những thông tin như thế sẽ làm cho xã hội tốt đẹp hơn, bởi điều mà người dân cần là tham nhũng không còn chứ không phải là những nhà báo chống tham nhũng không còn nỗ lực để khui ra tham nhũng.

Nhưng, cho dù không có rủi ro pháp lý, thì việc sử dụng gài bẫy như một công cụ của nhà báo cũng là điều không nên làm. Bản thân hành vi gài bẫy đã chứa đựng những rủi ro về đạo đức. Sáng nay, 3-1-2012, Nguyễn Đức Đông Anh em vợ của Hoàng Khương đã bị khởi tố bắt giam. Trước đó, chỉ vì nhiệt tình giúp Hoàng Khương có những bằng chứng như hình ảnh, băng ghi âm để khui ra cả một đường dây, Tôn Thất Hòa cũng đã bị bắt vì trở thành người trung gian hối lộ. Thật khó giải thích khi những bài báo như vậy không được Ban biên tập Tuổi Trẻ bàn bạc và giám sát quy trình. Thật khó để giải thích nếu như hệ thống kiểm soát nội bộ của Tuổi Trẻ không còn khả năng nhận ra để ngăn chặn những sai sót nghiệp vụ nếu hành vi gài bẫy là do Hoàng Khương là “tự phát”.

Hôm qua, ngày 2-1-2012, Tuổi Trẻ đưa tin về sự kiện Hoàng Khương bị bắt sau các đồng nghiệp hàng tiếng đồng hồ. Sau cuộc họp giao ban báo chí hôm 23-12-2011, báo giới đã cảm thấy công an sẽ bắt Hoàng Khương. Bản tin của Tuổi Trẻ không cho thấy tờ báo có sự chuẩn bị để phó với một “khủng hoảng” mà mình biết trước. Tất nhiên, có nhiều thông tin cả Ban biên tập Tuổi Trẻ và bạn đọc cũng cần phải đợi kết luật điều tra. Nhưng, không nên phó thác sinh mệnh một người đã viết hơn 50 bài về tiêu cực của công an cho công an định đoạt.

Hoàng Khương bị bắt trong hoàn cảnh mà vợ anh đang có bầu ở tháng thứ 5 và một đứa con nhỏ của anh bị bệnh bẩm sinh. Tôi nghĩ, điều mà gia đình anh cần không chỉ là việc được Tuổi Trẻ thuê giùm luật sư mà còn đứng bên cạnh anh như một cơ quan ngôn luận. Cái câu mà Hoàng Khương viết trong tường trình – “Tôi cam đoan những biện pháp nghiệp vụ và tình huống cấp bách buộc phải xử lý nêu trên chỉ nhằm mục đích hoạt động nghiệp vụ báo chí, thu thập thông tin, chứng cứ chứ không hề có động cơ vụ lợi nào khác” – cho đến nay vẫn không thấy xuất hiện trên Tuổi Trẻ. Trong đời làm báo hơn 20 năm của mình, nhiều lần ngồi ở tòa nhìn vào mắt các bị cáo, tôi biết điều họ lo sợ không chỉ là những năm tù đang rình rập mình mà còn là những tiếng kêu của họ không có ai nghe thấy. Ngay cả khi Hoàng Khương có những sai lầm thì, tại thời điểm này, Tuổi Trẻ cũng không nên để anh đơn độc.

Việt Nam sẽ có 24 chiếc Sukhoi-30 trong năm 2012

MOSCOW (NV) – Hãng thông tấn Interfax cho biết, Nga vừa giao cho Việt Nam thêm 4 chiến đấu cơ Sukhoi-30 vào hôm 30 tháng 12 năm 2011, nâng tổng số máy bay loại này đã giao cho Việt Nam là 20 chiếc.

Chiến đấu cơ Sukhoi-30 của Nga trong cuộc biểu diễn. Việt Nam sẽ có tổng số 24 chiến đấu cơ loại này trong năm 2012. (Hình: MANPREET ROMANA/AFP/Getty Images)

Việt Nam đã lần lượt nhận của Nga bốn chiếc Sukhoi-30 đầu tiên vào năm 2004, tám chiếc vào năm 2009. Tháng 2 năm 2010 Việt Nam ký hợp đồng mua thêm 12 chiếc nữa.

Trong hợp đồng mua thêm 12 chiếc của năm 2010, Nga đã giao 4 chiếc trong năm 2010, và nay giao thêm 4 chiếc nữa.

Như vậy, theo hợp đồng, Nga còn nợ Việt Nam 4 chiếc nữa và sẽ giao hàng nội trong năm 2012.

Nếu hợp đồng hoàn tất, đến cuối năm 2012, Việt Nam sẽ có một phi đội Su-30 gồm 24 chiếc.

Sukhoi 30 là loại chiến đấu cơ hiện đại bậc nhất của quân đội Việt Nam hiện nay, mỗi chiếc trị giá khoảng 62.5 triệu đô la.

Sukhoi-30 hoạt động tầm xa trên biển trong mọi điều kiện thời tiết và thường được so sánh với chiếc F15-E do Mỹ sản xuất.

Chiến đấu cơ này không chỉ tấn công trên không mà còn tấn công mục tiêu trên đất liền và trên biển. Chúng có thể mang theo đến 8 tấn vũ khí, bao gồm tên lửa đối không và đối biển.

Hôm 30 tháng 12, một biên đội, ít nhất là 3 chiếc chiến đấu cơ Sukhoi-30 của quân đội Việt Nam đã thực tập ném bom mở màn một cuộc tập trận diễn ra tại ‘Trường bắn quốc gia khu vực 3 thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Ðồng Nai’.

Cuộc tập trận này do Quân Ðoàn 4, một trong 4 quân đoàn chủ lực của quân đội Việt Nam, chủ trì.

Tin của báo Quân Ðội Nhân Dân cho hay là các chiếc đấu cơ Sukhoi-30 đã dội một loạt gồm 12 quả bom. Và đây cũng là lần đầu tiên loại chiến đấu cơ này được Việt Nam đưa vào tập trận.

Việt Nam thời gian qua liên tục tăng ngân sách cho quốc phòng.

Tháng 1 năm 2011, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh nói ở kỳ đại hội đảng rằng ngân sách quốc phòng của Việt Nam năm 2011 có thể tăng lên đến 52 ngàn tỉ đồng (tương đương khoảng $2.6 tỉ USD). Phần ngân sách được phân bổ cho quốc phòng như vậy tượng trưng sự gia tăng đến 70% so với năm 2010 

Khi các lãnh đạo Việt Nam hô hào ‘lột xác’

Nam Phương

 Hôm 2 tháng 1, 2012, Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) và nhiều báo chính thống của nhà nước phổ biến một bài viết dài ký tên Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Việt Nam.

Hô hào đổi mới nhưng ngay ở thủ đô Hà Nội, người dân vẫn phải bám vào ít rau, củ, quả bán lấy ít tiền sống qua ngày. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Nội dung bài viết với lời hô hào “Hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng XHCN” hoặc “Ðặt tiến trình phát triển của đất nước vào quỹ đạo mới”.

Hai ngày trước đó, tức ngày 31 tháng 12, 2011, đọc diễn văn bế mạc hội nghị lần 4 của ban chấp hành trung ương đảng khóa XI sau 6 ngày họp, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cũng hô hào chỉnh đốn đảng: “Khẩn trương, nghiêm túc với tinh thần đổi mới.”

“…Cái gì tốt thì phát huy, cái gì xấu thì tự gột rửa; tránh xa mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài; tránh rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ tệ hại” – Ông Trọng kêu gọi những người ở trung ương, từ cao xuống thấp phải “nhìn lại mình”.

Vẫn đổ tội cho “các thế lực thù địch” gây cản trở cho cái chế độ độc tài đảng trị, ông Trọng nói: “Chúng ra sức xuyên tạc, vu cáo đảng ta, nhà nước ta, đánh thẳng vào hệ tư tưởng, cương lĩnh, đường lối chính trị của đảng, kích động chia rẽ nội bộ đảng, chia rẽ đảng, nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm.”

Rồi ông cảnh cáo đảng viên: “Trong tình hình ấy, nếu đảng ta không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ, thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên.”

Các cuộc cách mạng lật đổ các chế độ độc tài ở Bắc Phi, các áp lực đòi thay đổi của quần chúng trong nước tuy còn quá nhỏ bé nhưng cũng đang là những yếu tố thúc đẩy chế độ Hà Nội phải lập kế hoạch chận trước.

Sang đầu năm mới, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có bài viết tập trung vào tuyên truyền về tương lai một nước Việt Nam “vượt qua sức ỳ” để “đặt tiến trình phát triển của đất nước vào quỹ đạo mới – Quỹ đạo phát triển bền vững.”

Bài viết này tuy ký tên là Nguyễn Tấn Dũng, nhưng nhiều phần không phải là khả năng chữ nghĩa Nguyễn Tấn Dũng, mà là từ một bộ phận chuyên viết diễn văn, bài viết cho các lãnh tụ của chế độ.

Nó có lối viết phân tích, nhận định quen thuộc của văn phong viết bình luận trong cách trình bày vấn đề “một là, hai là…”

Bài viết trình bày các nhược điểm của nền kinh tế Việt Nam từng bị giới chuyên gia kinh tế quốc tế khuyến cáo phải thay đổi suốt nhiều năm qua nhưng “sức ỳ” của hệ thống, lợi ích phe nhóm, nạn tham nhũng đã trì kéo nó lại.

Từ đầu thập niên 2000, nhiều nhà bình luận kinh tế quốc tế thấy có những thay đổi trong đường lối điều hành kinh tế, họ đã dự báo Việt Nam là một con hổ Á Châu đang vươn vai đứng lên.

Nhưng, cho đến nay, sau hơn 25 năm “đổi mới” con hổ Việt Nam vẫn chỉ là con hổ con còi cọc không lớn nổi trong khi Singapore, Ðài Loan, Ðại Hàn, Thái Lan, Mã Lai tiến những bước thật dài. Ðại Hàn, Singapore, Ðài Loan là những con hổ thật sự.

Lạm phát tại Việt Nam năm 2011 là 18.58%. Năm 2008 lạm phát tới 22.76%. Từ năm 2009 đến 2011, Việt Nam đã phải phá giá đồng bạc 4 lần.

Nhược điểm của nền kinh tế Việt Nam là chủ trương “tăng trưởng bằng mòi giá” bất chấp lạm phát và sự khốn đốn của đại đa số quần chúng. Bị áp lực từ các định chế cấp phát tín dụng quốc tế, trong bài viết ngày 2 tháng 1 năm 2012, Nguyễn Tấn Dũng hô hào “tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng”.

Trong tất cả các cuộc họp cấp viện hàng năm, các quan chức cầm đầu chế độ Hà Nội nghe đầy lỗ tai các lời chỉ trích từ chính sách sai lầm đến tham nhũng. Họ đều hứa hẹn, cam kết thay đổi rồi đâu vẫn vào đấy sau các cuộc họp.

Những lời hô hào của ông Dũng “Một là, tái cơ cấu các ngành sản xuất và dịch vụ”, “hai là, tái cơ cấu doanh nghiệp”, “ba là, điều chỉnh chiến lược thị trường”… không phải là những cái mới được nói đến lần đầu.

Trước các vấn nạn của nền kinh tế với lạm phát cao, thâm thủng mậu dịch, đồng tiền mất giá, dự trữ ngoại tệ xuống tới mức nguy hiểm, giới chuyên gia kinh tế cho rằng các biện pháp đối phó của Hà Nội chỉ là những giải pháp chắp vá chữa bệnh đằng ngọn.

“Con cọp Á Châu này đang vất vả với lạm phát và tham nhũng.” Tác giả Geoffrey Cain viết trên GlobalPost.com ngày 19 tháng 10, 2011.

“Nếu nhà cầm quyền Hà Nội thật sự nghiêm chỉnh muốn làm sống lại niềm lạc quan đang chết dần (của giới đầu tư ngoại quốc) họ phải kềm chế các công ty quốc doanh (lãi giả lỗ thật). Chính các công ty này đã làm cho lạm phát tăng cao nhất Á Châu, nhấn chìm các công ty tư nhân có khả năng cạnh tranh tốt hơn (trong tiến trình phát triển kinh tế).”

Năm 2000, dân số Việt Nam là 76 triệu người, lợi tức trung bình chỉ có $360 USD mỗi đầu người. Năm 2011, dân số tăng lên thành 87 triệu người. Theo ông Ayumi Konishi, giám đốc Ngân Hàng Phát Triển Á Châu tại Việt Nam, lợi tức trung bình của người Việt Nam đạt khoảng $1,200 USD, qua một bản tin trên báo Thanh Niên ngày 3 tháng 5, 2011. Nhưng khoảng cách giầu nghèo giữa tầng lớp thống trị và đại đa số quần chúng quá cách biệt. Hàng triệu người vẫn phải được phát gạo cứu đói mỗi năm.

Ông Nguyễn Tấn Dũng hô hào đưa đất nước vào “Quỹ đạo phát triển bền vững”.

Nhưng liệu có bền vững được không, khi trước đó ít lâu, ngày 1 tháng 5 năm 2011, Ðài Tiếng Nói Việt Nam tường thuật một cuộc họp của trung ương đảng nói rằng “Tham nhũng vẫn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp”.

@NguoiViet