Georgy-Kurasov Painting

This slideshow requires JavaScript.

Georgy Kurasov

Georgy Kurasov was born in 1958 in the USSR, in what was then Leningrad. He still lives and works in the same place, but now the country is Russia and the city is called St Petersburg. Without any effort on his part whatsoever, Georgy seems to have emigrated from one surreal country to another.

His native city was irrational from the very moment of its foundation. Situated on the same latitude as the southern shores of Alaska, on the swampy delta of the River Neva where no one had ever settled before, this new capital city grew up on the very edge of a monstrous empire.
Here on the totally flat surface carved across by rivers, streams and canals, European architects laid out, like images on a canvas, straight avenues, streets and squares, they built Greco-Roman porticoes and Baroque palazzi, erected sculptures and fountains, amidst something akin to permafrost where half the year is dominated by ice and frost and the other half by damp and rain.
It is hard to find a more artificial – more artistic – city.

Georgy spent his childhood on the Petrograd Side, to the north of the city, in a tiny little flat with windows that looked out onto an even tinier courtyard. As far as he recalls, he modelled things in plasticine and drew resting on the vast wooden windowsills. Not so much aesthetic pastimes as compensations for the grey minimalism of everyday life, the absence of light and bright colours.
At thirteen years old his mother put him in the art school attached to the Academy of Arts. At the interview it was politely explained that there was nothing for Georgy in the painting department since he had a total lack of feeling for colour. So they suggested Georgy Kurasov join the sculpture class.

In some way he was pleased, since all the painted images they showed him seemed terribly boring, and Georgy had great interest in form.

That was when he began his professional training.

In 1977 Georgy Kurasov entered the sculpture department of the Academy of Arts.
He spent six years in the vast studio of a building erected during the time of Catherine the Great, in the late 18th century. Those gloomy, narrow, incredibly high vaulted corridors, the vast, cold, grimy studios, everything was inhabited by the ghosts of long dead masters of ages past, whose influence was far more real than the insignificant apologists of Socialist Realism and of Marxist-Leninist aesthetics. The Academy was a solid amalgamation of temple to and prison of the arts.
Yet those years in the Academy were the best years of his life. Nearly all Georgy’s friends and colleagues date from those years.

The circles he moved in were intellectual, talented, young – which meant free, with the exception of the one or two informers that were simply an obligatory element of life in those years and did little to alter the overall picture.

It was then that Georgy met his wonderful Zina, who was later to occupy nearly all his space, both physical, in his life, and creative, in his works.

Almost immediately after his diploma Georgy Kurasov was called up for army service, but even there he was armed not with a rifle but with paints, since he was lucky enough to be appointed Court Artist to his general.

In 1984 Georgy Kurasov was at last demobbed. He was free.

Over the next few years he took part in all kinds of exhibitions and competitions in order to score the Brownie points necessary to gain membership of the Union of Artists, since that was more or less the only way of being allocated a separate studio.

It was not the easiest of times. In order to take part in exhibitions you had to have something to display. And in order to create that something to display, you had to have a place in which to create it. Georgy had nowhere.

At last, however, he managed to join the happy ranks of members of the Union of Artists, was allocated his tiny studio, and thought he was at the very peak of happiness. All around him the country was in turmoil, at the very heights of Gorbachev’s ‘perestroika’, people passionately quenching their thirst for information whilst battling with a hunger of somewhat more concrete physical nature caused by food shortages.

Things were now rather difficult for artists, particularly as far as sculpture was concerned. Sculpture, as is well known, is an art form for either rich or totalitarian states. The totalitarian state had ceased to exist but it had not become rich.

Georgy Kurasov started to paint, but it soon became clear that selling his pictures for any acceptable price was going to be impossible, and so he had to feed his family by producing small pastels which Georgy sold through small galleries dealing mainly in souvenirs for foreign tourists.

In 1991 the Soviet Union collapsed. By that time Kurasov had put together a large body of paintings, but had absolutely no idea what he was going to do with them. The future looked bleak.

Then in 1993 his works were first exhibited in the USA. Since then, Georgy Kurasov have exhibited and sold his paintings exclusively in North America.

It is many years since he dropped out of the world of sculpture in Russia, and he never formed part of the world of painting there. Kurasov knows there are plenty of people who, noting the absence of his works at Russian exhibitions, think he has emigrated.

Americans see Georgy Kurasov as a Russian artist, Russians as an American artist. Painters think he is a sculptor. Sculptors are sure he is a painter.

And when Georgy Kurasov thinks of it, he rather like this borderline existence. Perhaps it what makes it possible to be himself, to be unlike anyone else.

——————————————————————————————————————————————————————————————————————————————–

Truyện tình sử : Từ gái làng chơi trở thành nữ bá tước

Xuất thân là “vật mua vui” cho đàn ông, nàng bỗng trở thành người đàn bà quyền lực nhất trong triều đình Pháp: tình nhân của hoàng đế.

Cũng là một tình nhân được sủng ái của hoàng đế Pháp Louis XV nhưng khác với nữ hầu tước Pompadour, bá tước phu nhân Du Barry không có kết cục tốt đẹp. Bà cũng không có được sự tinh tế, am hiểu như “người tiền nhiệm”; thứ vũ khí mạnh nhất của bà là kỹ nghệ chăn gối.

Cô kỹ nữ mê hoặc các ngài quý tộc

Bà Du Barry có tên thật là Marie-Jeanne Bécu, sinh năm 1743, một cô gái thuộc tầng lớp thấp chuyên phục vụ khách đàn ông ở quán rượu. Có tài liệu cho rằng, mặc dù vậy, cô gái này tuy là người bình dân nhưng không hoàn toàn vô học bởi có cha là một tu sĩ. Hồi nhỏ, Marie-Jeanne được học ở trường dòng dành cho các bé gái.

Theo nhiều tài  liệu, chi phí học ở đây rất đắt đỏ, vượt quá khả năng chi trả của gia đình, sở dĩ Marie-Jeanne được học trường này là nhờ sự bảo trợ của một người đàn ông giàu có, tình nhân của mẹ cô. Khi biết mẹ mình có bồ, và chính ông ta chi tiền để dạy dỗ mình thành một thiếu nữ đức hạnh, ngoan đạo, cô gái đã trả mối hận này bằng cách sống nổi loạn: vứt bỏ lời răn giữ mình trinh bạch vẫn được nhồi sọ hằng ngày, cô trao thân cho chính con trai người đàn ông ấy, thường xuyên bỏ học đi chơi cùng cậu ta, bất kể việc bị nhà trường nhắc nhở, trừng phạt.

Cuối cùng, không dạy nổi cô gái bất trị, nhà trường đành đuổi học cô. Không còn cương tỏa, Marie-Jeanne mặc sức sống tự do, phóng túng cùng người tình, cho đến khi bị anh chàng bỏ rơi, một mình bơ vơ giữa kinh thành Paris hoa lệ mà lạnh lùng ở cái tuổi 16.

Chân dung Marie-Jeanne Bécu, tức nữ bá tước Du Barry.

Không còn nơi nương tựa,  Marie-Jeanne đành phải vào làm việc trong một quán rượu. Rất nhanh chóng, cô gái tóc vàng có bộ ngực nở nang cực kỳ nổi bật này trở thành điểm thu hút đàn ông mọi giới. Không chỉ đưa đẩy gợi tình, nàng còn sẵn sàng lên giường với họ để “kiếm thêm”, và khiến các quý khách điên đảo với tài chăn gối cực kỳ xuất sắc. Chẳng mấy chốc, ngay cả các quý ông thuộc giới quý tộc cũng trở thành khách của nàng, trong số đó có bá tước Barry, một người đàn ông đầy mưu mô và tham vọng.

Không chỉ mua vui với Marie-Jeanne Bécu, vị bá tước này còn nghĩ ra cách “tận thu” cô gái, dùng nàng làm phương tiện tiến thân của mình. Ông “cử” nàng đến gặp các đối tác quan trọng của mình để “phục vụ” họ trên giường, và chiến thuật này thực sự hiệu quả, đến mức bá tước Barry nghĩ đến việc dùng Marie-Jeanne làm mồi nhử nhân vật quyền lực nhất nước Pháp: đức vua Louis XV. Và ngay trong lần gặp ‘tình cờ” đầu tiên với cô gái có thân hình nở nang, nóng bỏng này, nhà vua đã lập tức mê tít. Và đến khi được thưởng thức kỹ nghệ giường chiếu vô song của nàng, ngài hoàn toàn bị “hạ gục”.

Làm hoàng đế điên đảo

Xuất thân hèn kém của Marie-Jeanne là một cản trở đối với việc biến nàng thành người tình chính thức của đức vua, cho dù ngài có yêu nàng đến mấy. Vì thế, để tỏ “lòng trung”, bá tước Barry đã nghĩ ra một diệu kế: cưới nàng cho em trai ông ta là Du Barry, một người đầu óc đần độn. Thế là cô kỹ nữ Marie-Jeanne một bước thành bá tước phu nhân, đủ danh hiệu để ra vào hoàng cung và tham gia các bữa tiệc của giới quý tộc.

Để các cuộc đi về của đức vua giữa hoàng cung và tư thất nhà Barry không gây chú ý với thiên hạ và cả ông chồng bị cắm sừng, bác tước Barry đã cho đào một đường hầm thông đến tận phòng ngủ của hoàng đế để nữ bá tước có thể đến đó khi ngài “triệu”.

Tuy nhiên, dù giấu giếm thế nào thì chuyện nữ bá tước Du Barry chẳng mấy chốc trở thành bí mật mà ai cũng biết. Người ta thậm chí còn thì thầm với nhau rằng vì quá thán phục tài chăn chiếu rất “nhà nghề” của cô cựu kỹ nữ này mà hoàng đế mắc phải căn bệnh do lao lực quá độ. Thấy chuyện đằng nào cũng đã lộ, bỏ ngoài tai những lời chỉ trích, mỉa mai, Louis XV ra lệnh cho chồng nàng phải ly dị vợ, và công khai đón Marie-Jeanne về ở điện Versailles.

 

Bà Du Barry là người tình được hoàng đế Louis XV sủng ái nhất trong những năm cuối đời.

Bất chấp xuất thân và học vấn ít ỏi của mình, nữ bá tước Du Barry hòa nhập rất nhanh vào cuộc sống cung đình, tiếp thu hoàn hảo “tinh hoa bề ngoài” của nó để trở thành một quý bà duyên dáng trong chốn giao tế, biết nói chuyện, pha trò một cách phong nhã và quyến rũ, khiến đức vua càng tự hào và say mê. Trong những năm cuối đời, vị vua này chịu ảnh hưởng vô cùng to lớn của bà Du Barry. Thậm chí người ta cho rằng các quyết định tối quan trọng như nước Pháp tham chiến hay không tham chiến, nhà vua có đích thân xuất chinh hay không… đều được đưa ra từ gợi ý của nàng, dù lời khuyên đó khiến nhà vua khi thì được khen ngợi, lúc lại bị dè bỉu.Còn nữ bá tước xinh đẹp thì mặc sức dùng tiền của đức vua để ăn chơi, mua sắm, sửa sang lâu đài, cung điện.

Người đàn bà quyền lực của nước Pháp

Sự nổi bật không thể chối cãi của nữ bá tước Du Barry giữa các buổi chiêu đãi cùng ảnh hưởng ghê gớm của nàng đối với đức vua khiến giới thượng lưu Pháp nhanh chóng hiểu ra rằng, người đàn bà không thể bị xem nhẹ như xuất thân của nàng. Thái độ của họ lập tức thay đổi: săn đón, bợ đỡ thay vì ghẻ lạnh, khinh thường. Và khi cần cầu xin đức vua một điều gì, họ đều biết rằng kết quả sẽ khả quan nhất nếu đi qua cửa bà Du Barry. Nàng trở thành một thế lực ngầm vô cùng mạnh, người mà các vị công hầu cùng phu nhân của họ đều cố gắng làm thân, lấy lòng.

Quyền lực của nữ bá tước lớn đến nỗi, ngay cả Marie Antoinette, vợ của thái tử, người sau này là hoàng hậu của vua Louis XVI, cũng đã phải chịu rất nhiều ấm ức mà không làm gì được. Marie Antoinette xuất thân là công chúa nước Áo cao quý, còn non nớt, thiếu kinh nghiệm nên đã dại dột tỏ ra khinh bỉ bà Du Barry, và bị nữ bá tước trị cho đến nơi đến chốn để dằn mặt. Chuyện kể rằng, khi mới về làm dâu hoàng gia Pháp, Marie Antoinette không chịu nói chuyện với bà Du Barry, cựu kỹ nữ, nhưng rồi vẫn phải thi lễ với bà do sự ép buộc của đức vua. Điều này khiến nàng cảm thấy nhục nhã cho thân phận công chúa của mình. Mâu thuẫn giữa thái tử phi và người tình của đức vua lớn tới mức Louis XV tuyên bố muốn cắt đứt mối quan hệ hòa hảo giữa Pháp và Áo, nên cuối cùng Marie Antoinette đành chịu nhún. Hoàng hậu tương lai của nước Pháp chịu cảnh bị ghẻ lạnh trong hoàng cung suốt một thời gian dài do ảnh hưởng của bà Du Barry.

Nhưng quyền lực của nữ bá tước đột ngột chấm dứt cùng với cái chết của Louis XV. Trước khi qua đời vì bệnh đậu mùa, ông vua ham sắc dục này đã ra lệnh đưa người tình ra khỏi cung điện, nhiều người cho rằng bà được đưa vào nhà tu kín, có người nói bà trở về vùng đất riêng của mình. Trải qua một số năm, bà có người tình mới là  Louis Hercule Timolon de Cossé, công tước xứ Brissac. Mặn nồng một thời gian, bà bị vị công tước này bỏ rơi.

Năm 1792, trong thời gian cách mạng Pháp, bà Du Barry bị bắt với tội danh phản quốc vì giúp đỡ một kẻ thù của cách mạng. Bà bị đưa lên đoạn đầu đài năm 1793 ở tuổi 50.

@ BaoDatViet

—————————————————————————————————————————————————————————————————————————————–

Ai đưa Nguyễn Tấn Dũng lên đỉnh quyền lực?

HỒ SƠ WIKILEAKS

Hà Giang/Người Việt

Trong một chuyến viếng thăm tỉnh Kiên Giang vào hai ngày 6 và 7 tháng 4 năm 2006, ông Seth Winnick, tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, đã tìm hiểu qua giới chức địa phương về thân thế một nhân vật từng có thời niên thiếu ở vùng này, đó là ông Nguyễn Tấn Dũng, khi đó là phó thủ tướng Việt Nam.
Những dữ kiện thu thập trong chuyến đi được ông Seth Winnick tường trình trong công điện ngày 13 tháng 4 năm 2006, gửi về cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Ðốn, vẽ nên chân dung ông Dũng như một người con yêu của Kiên Giang, và giải thích lý do tại sao sự nghiệp chính trị của ông Dũng chỉ trong một thời gian ngắn đã lên như diều gặp gió.

Theo một công điện của Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ Sài Gòn gửi về Hoa Thịnh Ðốn, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là người có sự nghiệp chính trị rất thuận buồm xuôi gió, vì được sự hậu thuẫn của cả Lê Ðức Anh, cựu chủ tịch nước, thuộc thành phần bảo thủ, và Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng và là nhân vật có khuynh hướng cải tổ nặng ký nhất. (Hình: HoangDinhNam/AFP/Getty Images)
‘Người con Kiên Giang’
Công điện cho biết, theo lời ông Bùi Ngọc Sương, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang, ông Dũng ra đời tháng 11 năm 1949 ở tỉnh Cà Mau, và sau đó theo gia đình dọn hẳn về Kiên Giang.
Ông Sương cho hay, cha của ông Dũng là một lãnh đạo cao cấp của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), bị giết chết khi ông Dũng còn tấm bé. Sau cái chết của cha, ông Dũng cũng gia nhập MTGPMN. (Lý lịch của ông Dũng ghi rằng ông gia nhập Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam vào năm 1961, khi mới được khoảng mười hai, mười ba tuổi, và gia nhập đảng Cộng Sản vào năm 1967.)
Vẫn theo lời chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang, ông Dũng từng là y tá cứu thương cho MTGPMN, và trong thời kỳ chiến tranh, được lên chức đội trưởng đội phẫu thuật Kiên Giang. Ðịa bàn hoạt động của ông Dũng lúc đó là rừng U Minh, nơi một thời là thành trì vững chắc của MTGPMN.
Sau 20 năm phục vụ trong quân đội, ông Dũng giải ngũ năm 1981 với chức vụ thiếu tá, rồi được đưa về đào tạo ở Học Viện Chính Trị Nguyễn Ái Quốc của đảng CSVN tại Hà Nội, nơi ông đã lấy được bằng cử nhân luật và bằng tốt nghiệp về nghiên cứu chính trị.
Sau khi tốt nghiệp Học Viện Chính Trị, ông Dũng được bổ nhiệm làm phó Trưởng Ban Cán Bộ và Tổ Chức Tỉnh Ủy Kiên Giang.
Một đoạn trong công điện viết:
“Dũng nhanh chóng thăng quan tiến tiến chức trong hàng ngũ đảng cấp tỉnh. Chỉ trong vòng một thập niên, ông được bổ nhiệm làm bí thư Tỉnh Ủy Kiên Giang, đồng thời là thành viên Ðảng Ủy Quân Khu 9.
Năm 1986, tại Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ 6, Dũng được bầu là ủy viên của Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng. Cuối năm 1994, ông được chuyển về Hà Nội để nhận chức thứ trưởng Bộ Nội Vụ (sau này được đổi tên thành Bộ Công An).”
Công điện cũng cho biết, với Kiên Giang, ông Dũng luôn là người con gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn.
Theo giới chức tỉnh Kiên Giang, ông Dũng thường xuyên về thăm quê và cắt cử nhiều người gốc Kiên Giang, hay thuộc đồng bằng Sông Cửu Long vào những vai trò quan trọng tại Hà Nội.
Công điện tiết lộ:
“Một nguồn tin đáng tin cậy tại Kiên Giang nói với Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ rằng, Ủy viên Bộ Chính Trị kiêm Bộ Trưởng Bộ Công An Lê Hồng Anh cũng là người được Dũng đỡ đầu và giúp trở thành người kế nhiệm ông làm bí thư tỉnh Kiên Giang, rồi sau đó ra Hà Nội.”
Cũng theo công điện, một vài người Kiên Giang khác được ông Dũng nâng đỡ.
“Dũng còn bổ nhiệm ông Huỳnh Vĩnh Ái, cựu phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Kiên Giang vào chức phó chủ tịch của Ủy Ban Thể Dục Thể Thao quốc gia, một chức tương đương với Thứ trưởng. Ở chức vụ này, Ái được trao trách nhiệm điều hành việc hợp pháp hóa một số những hình thức cá cược thể thao. Ngoài ra, Dũng cũng đưa cựu giám đốc Sở Y Tế tỉnh Kiên Giang là ông Trần Chí Liêm ra Hà Nội, và giờ đây Liêm là thứ trưởng Bộ Y Tế.”
Tả phù hữu bật
Giải thích con đường quan lộ thuận lợi của Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Lãnh Sự Seth Winnick dùng những cụm từ như “Ties of Blood” hay “Blood Debt” để mô tả thâm tình giữa Nguyễn Tấn Dũng với cả hai cánh tả lẫn hữu của đảng CSVN.
Ông Seth Winnick viết trong công điện:
“Một nguồn tin ở đồng bằng sông Cửu Long cho biết, cha của Nguyễn Tấn Dũng tử nạn vì bị Hoa Kỳ hay quân đội VNCH tấn công ngay giữa lúc đang họp với hai lãnh đạo của lực lượng nổi dậy lúc đó là Lê Ðức Anh và Võ Văn Kiệt.”
Công điện giải thích:
“Vẫn theo nguồn tin này, cả Lê Ðức Anh và Võ Văn Kiệt tin rằng họ nợ Dũng một món ‘ân oán’, và có bổn phận phải đền bù cho Dũng.
Ðó là lý do tại sao, dù có lập trường đối nghịch nhau, cả hai, Lê Ðức Anh thuộc thành phần bảo thủ, từng giữ chức chủ tịch nước từ năm 1992 đến 1997, và sau khi về hưu vẫn có rất nhiều thế lực; và Võ Văn Kiệt, cựu Thủ Tướng và là nhân vật có khuynh hướng cải tổ nặng ký nhất, đều cùng tiếp tay hỗ trợ cho sự nghiệp chính trị của Dũng.”
Công điện còn cho biết các giới chức đồng bằng sông Cửu Long, “dù không lạm bàn về khuynh hướng chính trị của Dũng,” tỏ ra “rất hãnh diện về người con yêu xứ Kiên Giang.”
Công điện ghi rõ nhận xét của người Kiên Giang về Nguyễn Tấn Dũng: “Dũng là một người bộc trực thẳng thắn, dám nói, dám làm, không ngại có những quyết định táo bạo. Thí dụ, ông là người đầu tiên trong nhóm lãnh đạo cao cấp dám gửi con qua học đại học tại Hoa Kỳ.”
Các viên chức Kiên Giang cũng đánh giá rằng, liên hệ của ông Dũng với cả cựu Chủ Tịch nước Lê Ðức Anh và cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt “giúp ông có thế để chống chỏi với áp lực từ cả hai phía bảo thủ và cấp tiến.”
Ngoài thân thế của Nguyễn Tấn Dũng, một công điện khác, từ tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, gửi về cho Bộ Ngoại Giao, ngày 5 tháng 6, năm 2009, cho thấy rõ hơn về con người này, khi mô tả việc Nguyễn Tấn Dũng từng chiếm độc quyền trang nhất của các tờ báo in cũng như báo mạng lớn, để dành cho bài ai điếu của ông, viết trong dịp giỗ đầu của cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt.
Giành giựt chức thừa kế
Công điện cho biết, “chỉ một năm sau cái chết của vị cựu Thủ Tướng cấp tiến Võ Văn Kiệt, giới ủng hộ ông Kiệt than phiền là lãnh đạo đảng cộng sản đương thời hoàn toàn phớt lờ những cải tổ mà ông Kiệt đề nghị, dù muốn bảo vệ di sản của ông.”
Cũng theo công điện, thì mặc dù tỏ ra không mấy tin tưởng vào viễn ảnh của việc cải tổ, giới trí thức Sài Gòn, kể cả những người đã dấy lên phong trào phản đối rầm rộ chính sách khai thác Bô Xít của đảng, cũng công nhận rằng “chủ trương cởi mở và sự thẳng thắn của Kiệt tiếp tục tạo cho họ nguồn cảm hứng để tiếp tục con đường cải cách, và dân chủ hóa Việt Nam mà ông đã vạch ra.”
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ đánh giá cao nỗ lực của Nguyễn Tấn Dũng trong việc “dùng hoài niệm Võ Văn Kiệt” để “làm hồi sinh hình ảnh của mình như một nhà lãnh đạo có khuynh hướng cải tổ.”
Thay vào đó, công điện nhận định rằng, người ta (giới trí thức Sài Gòn) “nói về một khoảng trống trong phe cải cách, bởi vì ngày nay, ngoài ông Kiệt ra, không ai hội đủ cả tinh thần cách mạng lẫn uy tín về cải tổ.”
Một đoạn trong công điện viết:
“Ở Việt Nam, ngày giỗ là một cột mốc quan trọng, và theo truyền thống, trách nhiệm cử hành nghi lễ giỗ hàng năm được trao cho người thừa kế.”
Vì vậy, công điện cho biết, vào ngày 28 tháng 5, giới quan tâm tại Sài Gòn đã “chau mày” trước việc Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ra chỉ thị cho tất cả những báo in và các trang báo điện tử lớn, hai ngày trước ngày giỗ của Võ Văn Kiệt, phải đăng một bài viết của Dũng nhân dịp này.
Công điện nêu rõ:
“Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn được cho biết là giới truyền thông nhận chỉ thị trực tiếp từ phủ Thủ Tướng, là bài điếu văn của ông phải được đăng ở trang nhất, và không bài viết nào được đi trước bài của ông.”
Theo nhận định của đại diện Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, bài viết của thủ tướng “chẳng đặc sắc gì hơn một bài tán dương lãnh đạo tiêu biểu, ca tụng ông Kiệt như một chiến sĩ giải phóng nhiệt thành, nhiều sáng kiến, đi tiên phong trong việc hòa giải dân tộc và cải cách kinh tế.”
Thế nhưng, sau khi bài viết của Dũng được công bố, “một loạt các bài viết khác đua nhau xuất hiện.”
Và, “rất nhiều bài viết cả trên báo ‘lề phải’ lẫn cộng đồng blog, mô tả ông Kiệt là vị lãnh đạo cuối cùng của ‘thế hệ đổi mới’: một nhà cải cách vĩ đại, hòa giải; nhưng trên tất cả, là một người ủng hộ dân chủ ở một vị trí độc đáo, có nhiều uy tín và dám công khai kêu gọi cải cách.”
Công điện cho biết thêm là những nhà quan sát chính trị tại Sài Gòn nói với tòa lãnh sự Hoa Kỳ là họ “đánh giá hành động của Dũng là một nỗ lực “khôi phục lại hình ảnh của mình như là một người ủng hộ cải cách.” Và, đặc biệt là để “thu hút sự ủng hộ của giới trí thức cổ xúy cải cách, trong thời gian gần đây đã liên tục chỉ trích chính sách khai thác bauxite tại Tây Nguyên của chính quyền.”
Tuy nhiên, công điện kết luận:
“Trong bối cảnh mà ước nguyện và tư tưởng của Võ Văn Kiệt không được mấy tôn trọng trong năm qua, mánh khóe của Dũng không những đã chẳng giúp ông kiếm được tí điểm nào trong giới trí thức mà còn phản tác dụng.”

@ nguoiViet

——————————————————————————————————————————————————————————————————————————————


Nguy rồi anh Nguyễn Như Phong ơi: Quân Kadhafi sắp hết nơi ấn náu

Mấy hôm rồi, đọc bài báo “Sự thật về Libya và Gadhafi” trên trang mạng do anh Như Phong làm tổng biên tập, biết được sự thật rồi, tôi cứ ngồi thương thầm cho anh Kadhafi và đất nước Libya.

Không thương sao được. Tội nghiệp cho anh Kadhafi, một vị lãnh đạo tài ba, “người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Libya” và đã “đạt được những thắng lợi vẻ vang to lớn” trong suốt thời kỳ anh cầm quyền mới có 42 năm qua.

Những thành tựu của Libya được tờ báo của anh Như Phong nêu rất cụ thể như thể anh ngồi trong nhà anh Gadhafi vậy. Về kinh tế xã hội thì: “Kadhafi đã tích lũy hơn 143 tấn vàng… Lợi nhuận từ việc bán dầu mỏ được sử dụng cho phúc lợi của nhân dân và cho việc cải thiện điều kiện sinh hoạt…” cũng như các thành tựu, công lao mà anh Kadhafi đã làm cho lục địa đen to lớn nhường nào.

Về chính trị thì: “Đất nước Libya, mà người ta miêu tả là một nền độc tài quân sự, thực ra là nhà nước dân chủ. Năm 1977, tại đây, nền Jamahiriya, một nền dân chủ hình thức cao, đã được tuyên bố; với nó, các thiết chế truyền thống của chính phủ bị bãi bỏ và quyền lực trực tiếp thuộc về nhân dân thông qua các ủy ban và đại hội của họ”. Rồi thì: “Libya có những cơ chế về dân chủ và về quyền giám sát của nhân dân: Những hội đồng công dân được bầu chọn và những cộng đồng tự trị (công xã), không thông qua danh sách kiểu Xôviết, không có thói quan liêu vô bổ, mà với một trình độ sinh hoạt và an ninh xã hội cao của công dân”.

Về uy tín của Gadhafi thì: “Những cuộc thăm dò trong người dân cho thấy, ông Kadhafi nhận được ít nhất 90% người dân ủng hộ tại Tripoli và ít nhất là 70% trên toàn quốc”. Như vậy Đại tá Kadhafi đã là niềm tự hào và là niềm tin tất thắng của nhân dân Libya còn gì.

Đọc bài trên tờ báo của anh Như Phong hiểu ra sự thật mới thấy ngao ngán và tội nghiệp cho anh Kadhafi. Một lãnh tụ tài ba, lỗi lạc, và được nhân dân yêu mến như cha già dân tộc vậy mà bỗng dưng dân chúng nổi dậy lật đổ ào ào cho đến hôm nay báo chí nhà nước ta phải kêu lên thất thanh: “Kadhafi sắp hết nơi ấn náu”.

Như vậy là bọn dân Libya là bọn ăn cháo đá bát, phải không anh Như Phong? Cái bọn dân đó không biết được nhờ ơn Đại tá, ơn Chính phủ mà họ có cơm ăn, áo mặc, được hưởng một cuộc sống như anh cho biết: “Libya là một đất nước có nhiều chính sách mà nhân dân nhiều nước trên thế giới nên mơ…”. Chắc nó cũng giống như bọn người nước ngoài nào đó ở các nước tư bản mà có thời kỳ đã từng mơ chỉ sau một đêm được trở thành người Việt Nam vậy, phải không thưa anh?

Anh Như Phong ơi, cái bọn dân Libya nó ngu muội ăn cháo đá bát đó thì nguy hiểm cho anh Kadhafi kính mến đã đành. Nhưng, điều nguy hiểm hơn cho anh Kadhafi nữa là cái “tay trùm  Hội đồng chuyển tiếp Quốc gia” của Libya đã và đang được cả thế giới lần lượt công nhận. Bất hạnh thay cho anh ta là trong số đó có cả đàn anh Trung Quốc và nhà nước Việt Nam độc lập và ưu việt chúng ta.

Như vậy, ngay cả nhà nước Việt Nam ta cũng đã không chịu nghe theo bài báo của anh cảnh giác mà lại công nhận một bọn phản phúc để lật đổ lãnh tụ tài ba Kadhafi được nhân dân Libya yêu mến, thế nghĩa là thế nào anh? Hay nhà nước ta cũng đã bị bọn đế quốc nó tuyên truyền mất rồi?

Đọc trên tờ báo của anh mà tôi giật mình đánh thót: “Bây giờ thì những kẻ phản bạn đó chẳng những xâm lược Libya để ăn cướp dầu mỏ, vàng và tiền của xứ sở này mà còn tìm cách truy sát Kadhafi vì nhiều lý do…”. Anh nói thế này, thì chẳng hóa ra anh chửi ngay cả nhà nước mình cũng phản bạn ư? Quả là anh mạnh miệng, nhưng tôi hỏi nhỏ là anh nói vậy có phải “đi làm việc” với công an không? Hay vì anh là công an rồi nên có thể nói được mọi chuyện? Tôi mơ được như anh để nói thật mà khó lắm thay.

Càng đọc tờ báo của anh, chúng tôi quả thực là không hiểu nổi vì sao nữa.

Không thể hiểu nổi lý do vì sao bọn dân Libya nó dốt nát đến thế, ai lại gọi là chế độ độc tài khi anh Kadhafi mới cầm quyền có 42 năm. Mà cầm quyền 42 năm thì nhằm nhò gì so với ông bạn vàng Phiden Castro của chúng ta còn cầm quyền tới 49 năm và khi 82 tuổi rời ghế vẫn phát biểu là “Tôi không tham quyền cố vị” nếu ông ta mà tham quyền cố vị thì chắc phải giữ ghế đến khi cải táng chăng.

Không hiểu nổi vì sao cả thế giới đã rất bất công khi lên án anh Kadhafi cho bắn vào người biểu tình.

Đúng là cái dân Libya quá trớn và không thể chấp nhận được, có lẽ chúng nó không được sống trong chế độ ưu việt như chúng ta nên bọn nó không hiểu, cứ biểu tình lung tung nên mới xảy ra như thế.

Biểu tình mà không ngăn chặn thì có mà loạn, phải không anh? Như ở Việt Nam ta thì biểu tình dù là yêu nước cũng phải đúng cách chứ không thể tự phát được, cái gì cũng phải có sự lãnh đạo của Đảng mới mong thành công.

Tiếc rằng anh Kadhafi đã không biết cách sang Hà Nội mà học cách trị biểu tình, lại sang Bắc Kinh mua vũ khí nên mới sinh cơ sự như thế.

Nhìn những cuộc biểu tình ở Hà Nội vừa qua xem, anh có lẽ là người hiểu rõ nhất những cuộc biểu tình đó. Chắc anh cũng hiểu rằng cái biểu tình ở ta vừa qua khác xa biểu tình ở Libya, phải không anh? Bên ta là biểu tình chống xâm lược lãnh thổ Tổ quốc ta, bên đó là biểu tình của bọn ăn cháo đá bát đòi lật đổ chế độ dân chủ Kadhafi.

Hai cách biểu tình đó, thì để dẹp biểu tình ở ta còn khó hơn gấp vạn. Thế mà nhà nước ta vẫn làm ngon ơ.

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, mọi người sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, nhà nước ta luôn khẳng định như thế. Nhưng khi cần, thì sẵn sàng đưa ra một văn bản chẳng cần cái quy trình và giá trị pháp luật nào cả như cái Thông báo của UBNDTP Hà Nội có đóng dấu treo. Thế rồi cứ vậy mà thực hiện, chẳng cần ký cót gì cho mất thời gian và nhỡ cá nhân anh nào chịu trách nhiệm thì lộ bí mật nhà nước về trình độ cán bộ lãnh đạo.

Đất nước ta vốn không giàu có gì, nhưng nhà nước vẫn không tiếc tiền để đưa hàng đoàn, hàng lũ cơ quan, đoàn thể, chính quyền đi vận động từng người không biểu tình yêu nước. Vận động lần 1 không được, thì lần hai, nếu vẫn đi biểu tình thì cho lên xe Bus, đưa về đồn công an lập biên bản, tạm giữ. Hàng ngày, hàng tuần dù có một nhúm người biểu tình thì vẫn cứ phong tỏa bằng hàng hàng lớp lớp công an, dân phòng, các cháu thanh niên, thiếu nhi…

Rồi sau đó cho người theo dõi, bọn biểu tình bị bám sát, không làm ăn gì được, muốn ở trọ thì xúi bọn nhà trọ đuổi cổ, xúi cơ quan đuổi việc… cứ thế mà làm thì còn thằng nào dám đi biểu tình nữa, phải không anh.

Song song với những việc đó, báo chí truyền thông phải có những tờ báo như của anh, viết những bài kiểu như “Tổ chức khủng bố Việt Tân và âm mưu gây rối tại Hà Nội”, dù cho nhân dân có thắc mắc là vì sao một nhà nước của dân, do dân, vì dân ở ngay đây mà dân lại đi nghe cái bọn Việt Tân ở đâu tận bên Mỹ bên Pháp gì đó thì có hơi lạ. Nhưng tuyên truyền là phải thế, đúng không anh? Cho dù ngay sau đó anh lại phải nói bằng một giọng đạo đức khác: “Vì những chuyên đại loại như trên mà phương Tây, thông qua bọn bồi bút, bồi báo, đã không từ một thủ đoạn nào để bôi nhọ Kadhafi…” sau khi anh đã bôi nhọ những người yêu nước đi biểu tình chống Trung Quốc.

Ở đây anh không nói rõ, bọn báo chí phương Tây đó nó có làm được bằng cái trò cắt xén, vu cáo và xuyên tạc để đánh đòn hội đồng một cách đê hèn như hệ thống báo chí của ta đã làm với Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt khi cắt nửa câu nói của ngài tại UBNDTP Hà Nội không anh?

Bên cạnh đó, ngoài chuyện giữ quan hệ với anh bạn 16 chữ vàng và 4 tốt, nhà nước ta chăm lo những hoạt động như “Diễn tập giải tán bạo loạn chính trị” thì bố đứa nào còn dám ngo ngoe gì được như Libya.

Đọc kỹ bài viết của anh, tôi mới nghiệm ra là anh Kadhafi bị khốn khổ như vậy, chỉ vì bọn báo chí, tuyên truyền đã “bằng những ngón xuyên tạc cực kỳ thâm hiểm trong nhiều tin tức trọng đại đối với toàn nhân loại”. Đích thị là ở cái bọn tuyên truyền này, vô nhân tâm, vô đạo đức quá, phải không anh?

Đúng là cái bọn báo chí Phương Tây loạn thật, có lẽ do chúng nó không có sự lãnh đạo tài tình và tuyệt đối nên mới thế.

Anh kể câu chuyện Mẹ Tăng Sâm, câu chuyện về truyền thông dối trá, lừa bịp đã làm cho người dân Libya nổi dậy chống chế độ dân chủ Kadhafi mà tôi giật mình. Đúng là cái bọn tuyên truyền lấy được, bất chấp sự thật, vu vạ cáo gian chẳng biết sự thật là gì. Chắc cũng như cái Đài Truyền hình Hà Nội vu cáo những người yêu nước là phản động mà các nhân sĩ, trí thức đang đưa đơn kiện đấy, anh nhỉ?

Tôi công nhận anh làm tuyên truyền có năng khiếu, anh vạch rõ từng thủ đoạn của bọn báo chí thế giới như đi guốc trong bụng chúng ra vậy. Tờ báo của anh viết: “Rồi còn cả chuyện tay trùm  Hội đồng chuyển tiếp Quốc gia thừa nhận là đã quay video ở nước ngoài thành cảnh ở Libya để… tuyên truyền”.

Đúng là những trò tuyên truyền đáng ghê tởm, mất nhân tính và đáng lên án. Nó cũng tựa như cái tờ Hà Nội mới đưa ý kiến nhân dân phản đối Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, nhưng khi tôi gọi điện thẩm tra đến tận nơi, thì người được có ý kiến trên báo Hà Nội mới đã chết cách đó… 6 năm, rồi những người khác nữa thì chưa sinh ra.

Hoặc cũng như trò Báo Hà Nội mới phỏng vấn ông luật sư Nguyễn Trọng Tỵ lên án linh mục ở Thái Hà. Nhưng khi tôi kiểm tra lại thì ông Tỵ chối như bay là ông không nói gì cả, ông không biết linh mục là ông nào mà do báo bịa đặt ra.

Tờ báo của anh cũng vạch rõ: “Người ta đã vạch trần nhiều cảnh dân chúng biểu tình hoặc binh lính Kadhafi đàn áp dân chúng đều được dàn dựng ở Qatar. Và khôi hài cũng như rẻ tiền là cảnh dân Libya mà lại chống Kadhafi bằng cờ Ấn Độ! thì đúng là quá quắt thật, vô lương thật. Nó cũng tựa như Đài Truyền hình của nhà nước đã dựng ông già ăn xin thành giáo dân để… phỏng vấn phản đối nhà thờ Thái Hà, hoặc lột áo một bộ đội thành giáo gian để đóng vai giáo dân khi khánh thành vườn hoa Vũ Khởi Phụng ở Thái Hà. Hay cũng như chuyện ở ta cho con nghiện và đám côn đồ bao vây nhà thờ, (tất nhiên là bên ngoài là công an bảo vệ) để đe dọa, hò  hét uy hiếp cả dòng tu, cả nhà thờ và bệnh viện khi đang nửa đêm và sau đó Bộ ngoại giao trả lời ráo hoảnh rằng đó là do “quần chúng tự phát”.

Tôi cũng như anh, không thể nào chấp nhận cái trò đó đúng là khốn nạn đó và phải lên án.

Là người có nghề, tờ báo của anh viết: “Trùm phát xít Goebbels, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Tuyên truyền của Đức Quốc xã đã từng nói: “Sự thật là điều không có thật được nhắc đi nhắc lại nhiều lần”. Nhưng rất ít người biết rằng, hiện nay, 9 tập đoàn truyền thông xuyên quốc gia đang nắm và phân phối hơn 90% lượng thông tin trên thế giới theo hướng có lợi cho bọn trùm quân sự – công nghiệp bằng những ngón xuyên tạc cực kỳ thâm hiểm trong nhiều tin tức trọng đại đối với toàn nhân loại”. Đúng là tổng biên tập một tờ báo của nhà nước, anh học rất thuộc bài. Có lẽ vì thế mà ở Việt Nam chúng ta, 100% báo chí là của nhà nước như tờ báo của anh và Thủ tướng Dũng còn khẳng định không bao giờ cho ló mặt báo chí tư nhân, độc lập. Phải chăng đây là nguyên nhân?

Anh đã cố công tìm ra nguyên nhân sự bất hạnh của anh bạn Kadhafi vĩ đại và đất nước Libya là do 9 tập đoàn truyền thông, phân phối hơn 90% lượng thông tin làm cho người dân Libya trở nên ngu dốt. Chắc nó cũng chưa bằng ở nước ta hơn 700 tờ báo, đài truyền hình, hàng vạn đài Phường và bảng thông tin thì 100% là do đảng và nhà nước nắm.

Đọc câu này của anh, tôi ngờ ngợ: “Kadhafi ở trong trái tim của hầu hết mọi người dân châu Phi như một con người độ lượng và giàu tinh thần nhân văn…” vậy thì vì sao cả lục địa Châu Phi rộng lớn, cả quả địa cầu này mà anh ta lại không có một chỗ ẩn nấp khi tính mạng bị đe dọa và truy đuổi?

Anh nói đúng, hay anh lại cũng mắc bệnh tuyên truyền bất chấp lương tâm? Lẽ nào cả thế giới này đều là quân phản trắc, là những kẻ vô lương trừ anh? Lẽ nào cả đất nước này hệ thống báo chí nước ta cũng đều phản trắc như vậy trừ tờ báo của anh? Họ đã không hề bênh vực Kadhafi một lời khi anh ta thất thế hoặc có bênh vực nhưng chưa đủ, chưa trúng như anh?

Và cả nhà nước ta nữa, khi có những tờ báo như của anh đã nói rõ “Sự thật về Libya và Kadhafi” rồi mà vẫn công nhận “tay trùm  Hội đồng chuyển tiếp Quốc gia” của Libya, thì nhà nước ta đứng vào dạng nào? Có vô lương và phản bạn như anh nói không?

Đọc bài viết trên tờ báo của anh, tìm hiểu mãi nguyên nhân tình trạng anh Kadhafi kính mến thấy xót xa mà không hiểu nổi một con người như vậy sao bị nhân dân lật đổ không thương tiếc để lâm vào cảnh không nơi ẩn nấp.

Nhưng đến câu này thì tôi hiểu được một phần: “Đó là một kiểu xã hội về nhiều phương diện rất giống với chủ nghĩa cộng sản”. Đọc đến câu này, người bình thường máu lạnh nhất cũng phải rùng mình và có lẽ cuối cùng, thì anh cũng phải công nhận người dân Libya sáng suốt hơn chúng ta.

Bây giờ, Kadhafi đã đến tình trạng không nơi ẩn nấp, anh Nguyễn Như Phong ơi. Là người quân tử, có nghĩa có tình lại có thế lực, anh nên có đề nghị nhà nước ta mời anh Kadhafi sang đây để người dân Việt Nam được hưởng một phần những sự tốt đẹp mà anh Kadhafi có thể đưa lại, để có thể giúp đưa Việt Nam nhanh chóng theo mô hình Libya.

Hà Nội, ngày 22/9/2011

  • J.B Nguyễn Hữu Vinh

@ J.B NguyênhuuVinh Blog

—————————————————————————————————————————————————————————————————————————————–