Anh hùng Trương Văn Sương

Vào lúc 10.20 sáng ngày 12 tháng 9 năm 2011, trái tim tù nhân chính trị bị giam cầm lâu nhất thế giới đã ngừng đập tại bệnh viện tỉnh Hà Nam. Tù nhân chính trị Trương Văn Sương thọ 68 tuổi, có tất cả hơn 33 năm trong tù. Ông ra đi không chỉ để sự thương tiếc trong lòng những người thân trong gia đình mà còn để sự thương tiếc trong những người có cùng niềm tin vào Chúa Jesus, những bạn bè, đặc biệt là những tù nhân chính trị và thường phạm ở trại giam Nam Hà.

Tôi được đưa đến nhà tù Nam Hà vào ngày 4 tháng 1 năm 2008, khi đó những người tù chính trị ở đây đã kể tôi nghe rất nhiều về chú Sương, họ nói những gì mà tù chính trị ở đây được đối đãi tử tế hơn tù thường phạm là nhờ một phần những đấu tranh trước đây của chú Sương. Trước đây khi nhà bếp mỗi lần nấu cơm không tốt, rau bẩn, hay tiêu chuẩn ăn bị cắt xén, chú Sương thường mang tất cả đồ ăn đó ra nhà văn hóa trại, và yêu cầu ban giám thị tới nhận lại. Hàng tháng khi viết bản kiểm điểm cá nhân, chú Sương luôn viết vào đó là yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến pháp, và đưa ra những kiến nghị dân chủ hóa đất nước. Chú Sương cũng còn là tù nhân chính trị bị kỷ luật và bị giam cùm không chỉ nhiều nhất ở nhà tù Nam Hà mà có lẽ nhiều nhất thế giới. Mỗi lần kỷ luật chú Sương, công an nhà tù phải huy động những người to khỏe, người thì bịt mồm, người thì khóa tay, sau đó họ mới áp giải được chú Sương xuống khu kỷ luật.
Khi nghe những câu chuyện về chú Sương, tôi mong ước có dịp được gặp chú một lần. Tháng 10 năm 2008, tôi được họ chuyển sang buồng giam số 6, nơi chú Sương bị giam trước đây. Tất cả những tù nhân ở đây mỗi khi nhắc đến chú Sương, họ đều tỏ ra rất kính trọng chú. Tại nơi biệt giam, chú có nghe về tôi, và thỉnh thoảng chú có gửi cho tôi một chút rau tươi mà chú tự trồng được tại đó. Sau nhiều năm bị biệt giam, vào tháng 9 năm 2009, chú được đưa trở lại buồng giam số 6 chung với tôi và từ đó tôi và chú cùng ăn chung với nhau cho đến khi chú được đưa đi cấp cứu và sau đó được về gia đình chữa bệnh.
Trong thời gian ở đó, chú đã kể cho tôi nghe những câu chuyện về những năm tháng tù đày gian khổ trong các nhà tù ở phía Nam, sau đó chú bị chuyển ra nhà tù Thanh Hóa và cuối cùng là nhà tù Nam Hà. Trong những năm bị cải tạo ở miền Nam, chú và những người tù ở đó đã phải kéo cày thay trâu trong nhiều năm, cơm ăn không đủ no. Những người tù bị kỷ luật thì cơm bị trộn chung với muối với tỷ lệ 70/30, không cho nước uống. Nhiều người không chịu nổi đã phải tự sát trong buồng giam. Chú Sương có mong ước được gặp lại các con, các cháu trước khi qua đời, nhưng chú cũng có nguyện ước được chết trong nhà tù.
Thượng Đế có lẽ đã hiểu thấu lòng chú, Ngài đã cho chú được thỏa ước nguyện. Tháng 7 năm 2010, chú bị ốm nặng, phải đi cấp cứu ở bệnh viện tỉnh Hà Nam, do bệnh viện không có khả năng chạy chữa, nên bộ công an và nhà tù Nam Hà đã cho chú được về gia đình chữa bệnh một năm. Chú đã được thỏa mong ước gặp lại các con, các cháu và những người bà con thân thích. Nhưng có lẽ điều may mắn nhất cuộc đời của chú là khi chú tới Hội Thánh Tin lành Mennonite của mục sư Nguyễn Hồng Quang, chú Sương đã được gặp Chúa Jesus. Chú và con trai Trương Tấn Tài đã đặt niềm tin nơi Chúa, họ đã được cứu rỗi và được hưởng những phước hạnh mà Chúa ban cho. Những người Việt yêu nước ở hải ngoại đã quyên góp giúp chú Sương mua được mảnh đất và xây được một căn nhà nhỏ. Những tưởng chú Trương Văn Sương sẽ được vui vẻ tuổi già với con cháu cho đến khi về với Chúa. Nhưng ngày 15 tháng 8 năm 2011, bộ công an và nhà tù Nam Hà đã đưa chú trở lại nhà tù.
Những ngày ngắn ngủi bên cháu nội
Ước nguyện được qua đời trong nhà tù của chú đã được thỏa nguyện, 10 giờ 20 phút ngày 12 tháng 9 năm 2011, trái tim của người anh hùng đã ngừng đập. Đức Chúa Trời đã đưa linh hồn chú Trương Văn Sương về Thiên đàng vinh hiển, ở nơi đó chú không còn phải chịu cảnh ngục tù, không bị những kẻ gian ác rình rập, không phải chịu những cơn đau tim, những lần khó thở. Nhưng phần thân xác của chú hiện vẫn bị giam cầm tại nghĩa trang của nhà tù Nam Hà, phải ba năm sau các con của chú mới có thể đưa xương cốt của chú trở lại quê nhà.
Chú Trương Văn Sương đã để lại một tấm gương sáng cho những người đấu tranh dân chủ ngày hôm nay, đó là sự kiên cường, bất khuất, không lùi bước, không đầu hàng trước cái ác, trước những bất công. Hy sinh cả cuộc đời để tranh đấu cho tự do, nhân quyền. Chúng tôi, những thế hệ con cháu của chú sẽ tiếp tục tranh đấu để đất nước và nhân dân sớm được hưởng tự do, dân chủ. Để những ước mong của chú và những người đã ngã xuống vì tự do, dân chủ sẽ không bao giờ uổng công vô ích.
Ngày 15 tháng 9 năm 2011.
——————————————————————————————————————————————————————–

CẬP NHẬT TIN 15-9-11

Vì sao Việt Nam rớt hạng năng lực cạnh tranh?

Nhiều chuyên gia nhận định việc Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) vừa đánh rớt 6 hạng năng lực cạnh tranh của VN so với năm 2010 (xếp 65 trên tổng số 142 quốc gia) xuất phát chủ yếu từ điều hành chính sách.
 
Theo nhiều chuyên gia, chính sách tiền tệ gặp rất nhiều vấn đề trong thời gian qua – ảnh: D.Đ.M

Lỗi hệ thống

TS Lê Đăng Doanh cho rằng việc sự kiện nói trên là chỉ dấu đáng lo ngại. “Điều này cho thấy mức độ cải cách của VN không theo kịp mức độ cải cách của các nước và theo tôi, sẽ giúp cho Chính phủ xác định được những ưu tiên đổi mới, thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế”, ông Doanh phát biểu.

Những tồn tại mà báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu đề cập đến VN gồm thâm hụt ngân sách, cơ sở hạ tầng không bắt kịp tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, đặc biệt giao thông đường bộ và cảng biển… đã được cảnh báo từ nhiều năm qua nhưng không được cải thiện.

Ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế cao cấp, cũng bày tỏ quan ngại trước các đánh giá không mấy tích cực của WEF về năng lực cạnh tranh của VN. “Các nhà đầu tư nước ngoài đang nhìn vào địa điểm đầu tư VN, nếu có hệ số tín nhiệm cao thì tốt, còn không sẽ rất thận trọng. Các vấn đề như cơ sở hạ tầng giao thông bế tắc; sản phẩm làm từ nhà máy đưa ra cảng gặp vô vàn khó khăn… chưa được xử lý. Đó chính là rào cản cho sự phát triển do đầu tư không đúng chỗ và quản lý không tốt đầu tư công”, ông Thành nhận định.

Theo các chuyên gia kinh tế, môi trường đầu tư VN ngày càng cải thiện, nhưng các chính sách để thúc đẩy thay đổi mạnh mẽ hơn nữa vẫn chưa quyết liệt. Do đó, các tồn tại cũ thường được duy trì dài lâu, không được giải quyết dứt điểm, cản trở sự phát triển chung.

Ví dụ về điều hành chính sách không hợp lý, ông Thành cho biết: Hồi năm 2008 khi đối mặt với kinh tế thế giới suy giảm, Nhà nước đã quyết định bù lãi suất 4% cho doanh nghiệp (DN). Đây là một quyết định có phần vô lý và đã tác động xấu đến tận bây giờ. “Tôi chưa từng thấy nước nào đã đem ngân sách để trả cho ngân hàng nhằm kéo lãi suất cho vay xuống. Ngoài ra ai vay, ai hội đủ điều kiện để vay, dòng tiền hướng vào lĩnh vực nào… cũng không rõ ràng. Một khoản tín dụng lớn đã được tung ra và tạo ra lạm phát, chảy qua lĩnh vực phi sản xuất, bất động sản. Ngay lập tức tăng trưởng bất động sản khủng khiếp, đẩy giá cả lên cao.

Từ sai lầm này đã dẫn tới nhiều hậu quả khác và kéo dài, thực tế chúng ta đang mắc vào lạm phát từ chính sách trước đấy. Bên cạnh đó, việc quản lý đầu tư công không chặt chẽ đã đẩy vào nền kinh tế một khoản tài chính không tốt cũng tạo ra lạm phát”, ông Thành phân tích.

TS Doanh cho rằng, các tồn tại ở VN rõ ràng bất cứ nhà quản lý nào cũng nhận thấy, nhưng không giải quyết được là có lỗi trong hệ thống.

Chính sách tình huống

Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), nhận định: Nhìn lại thời gian qua, các can thiệp vào thị trường mang tính hành chính quá nhiều, mà không theo các định chế cơ bản. “Điển hình là việc cấp vốn cho đầu tư công và điều hành DN nhà nước. Đáng lý ra chỉ hỗ trợ vào những khiếm khuyết của thị trường chứ không phải can thiệp vào nó. Hậu quả của việc đầu tư dàn trải, lãng phí là lạm phát cao, khiến khả năng cạnh tranh trở nên kém cỏi.

Các chính sách can thiệp vào thị trường giá cả gần đây cũng vậy. Chẳng hạn bán hàng bình ổn giá nên được xem xét lại, một khoản tiền 400 – 500 tỉ đồng ném vào thị trường cực lớn như TP.HCM, Hà Nội thì liệu có đóng được vai trò bình ổn hay không?”, ông Huỳnh đặt câu hỏi.

Theo luật sư Huỳnh, chính sách nhà nước nên can thiệp vào thị trường đúng lúc, đúng liều lượng vì thực ra nguồn lực có hạn. Cần triệt để hơn trong việc xử lý các vấn đề gây bức xúc của đầu tư công, chi tiêu công; cải cách mạnh mẽ DN nhà nước và tạo điều kiện tối đa cho mọi thành phần kinh tế, để họ kết nối với thị trường quốc tế và trở thành một bộ phận của kinh tế thế giới. Nếu không quyết liệt với các vấn đề trên, thì các phúc lợi xã hội sẽ giảm xuống bởi nguồn lực đã tập trung cho chỗ khác. “Hậu quả của việc can thiệp không đúng đã khiến thị trường nóng lạnh thất thường và nền kinh tế sẽ phát triển không bền vững. Nguyên nhân do khách quan từ suy giảm kinh tế thế giới, nhưng phần lớn là chủ quan vì ảnh hưởng từ tư duy điều hành ở quá khứ”, ông Huỳnh phân tích.

TS Hoàng Thọ Xuân, nguyên Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công thương), cho biết gần đây trong lĩnh vực thương mại có nhiều chính sách xử lý tình huống được cơ quan quản lý đưa ra. Đặc biệt để đối phó với nạn nhập siêu, các chính sách đã khiến nhiều DN không kịp trở tay.

Một số chính sách áp dụng vào thực tế nhưng không tìm hiểu kỹ nguồn căn của vấn đề, thành ra gây tác động khó lường. Chẳng hạn, lạm phát ở ta chủ yếu do chi phí đẩy, chứ chưa chắc là do nhiều tiền, tăng dư nợ tín dụng… Vì thế, nếu cứ thắt chặt tiền tệ, tài chính thì không đi đúng vào nguồn gốc của lạm phát nên hàng hóa sẽ càng ngày càng ít, thì làm sao có giá rẻ được? Chính sách thị trường không tập trung vào những bộ phận làm ra của cải vật chất cho xã hội, thì khó có phát triển bền vững.

“Quan điểm của tôi là, các chính sách của ta có tính chữa cháy nhiều quá. Nguyên nhân có thể xuất phát từ bối cảnh nhiều biến động, các chính sách ngắn hạn ra đời nhưng lại không có sự chuyển tiếp sang dài hạn”, ông Xuân bình luận.

Theo ông Xuân, chính sách kinh tế nên chú trọng đến các thành phần làm ra của cải cho xã hội. Các DN cần có chính sách riêng, ở đó họ có những ngân hàng được phân định rõ vai trò hỗ trợ cho DN phát triển. Tương tự, nếu xác định phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, vấn đề mà chúng ta nói đến rất nhiều năm qua nhưng không làm được, thì phải đi từ gốc, chọn ra những phân ngành như dệt may, điện tử, cơ khí… để xây dựng chiến lược, quy hoạch, định hướng. “Từ đó mới đề ra chính sách chung, nhưng ở ta lại làm ngược, chính sách chung trước rồi mới đến các vấn đề khác là không đúng”, ông Xuân phát biểu.

=============================================================================

Trung Quốc không thể sống cô độc

Thủ tướng Ôn Gia Bảo khẳng định, dù kinh tế Trung Quốc không bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng kinh tế nước này cũng không thể phát triển nếu bị cô lập.

Trong bài phát biểu hôm qua tại diễn đàn Kinh tế Thế giới được tổ chức tại thành phố Đại Liên, ông Ôn Gia Bảo cho biết, nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới “không thể hoạt động nếu bị cô lập, Trung Quốc sẽ xem xét các biện pháp để nhằm tăng trưởng kinh tế trong nước và kinh tế toàn cầu”.

Ông bày tỏ tin tưởng rằng: “Trung Quốc hoàn toàn có thể duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định”.

Thủ tướng Ôn Gia Bảo khẳng định nền kinh tế Trung Quốc “không thể hoạt động nếu bị cô lập”.

Ông nhấn mạnh: “Mục tiêu trước mắt của Trung Quốc là đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước. Tốc độ tăng trưởng chậm của kinh tế của Trung Quốc là do việc áp dụng các biện pháp thắt chặt chính sách tài chính và tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát”.

Cụ thể, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tỷ lệ 9,5% trong quý 2/2010, chậm hơn so với quý đầu tiên 0,2 %. “Chúng tôi sẽ giữ mức giá chung ổn định và ngăn chặn biến động lớn trong kinh tế”, Thủ tướng Ôn Gia Bảo cho biết.

Trong khi đó, các chuyên gia kinh tế hy vọng Ngân hàng Trung ương tiếp tục thắt chặt chính sách tài chính khi nền kinh tế toàn cầu đang phát triển chậm lại, dù Trung Quốc đang đối mặt với một tình hình rất phức tạp. Hiện nền kinh tế Trung Quốc gặp phải hai mối đe dọa: sự phát triển quá nóng ở trong nước và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Đồng thời, Thủ tướng Trung Quốc cũng kêu gọi sự hợp tác toàn cầu nhằm đối mặt với thách thức suy thoái kinh tế toàn cầu: “Hiện nay, nền kinh tế toàn cầu đang dần hồi phục nhưng không ổn định và đang phát triển rất chậm.Tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục tăng cao trong các nền kinh tế, các nền kinh tế mới nổi phải đối mặt với áp lực lạm phát tăng”.

Ông Ôn Gia Bảo cho biết: “Trung Quốc sẵn sàng đầu tư nhiều hơn ở các nước châu Âu nhưng họ cũng phải cẩn trọng trong cuộc khủng hoảng nợ”. Tuy nhiên, Thủ tướng Trung Quốc cũng kêu gọi các nước châu Âu công nhận Trung Quốc là một nền kinh tế thị trường. Mặt khác, ông cũng yêu cầu Mỹ cần bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư Trung Quốc và mở cửa thị trường đối với các công ty nước này.

Nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này có nhiều ảnh hưởng trên thị trường kinh tế thế giới nhưng gần đây Trung Quốc bị chỉ trích vì tập trung quá nhiều vào chính sách trọng thương (đẩy mạnh xuất khẩu và kiềm chế nhập khẩu) và nâng cao tiềm lực tài chính.

=========================================================

Hình ảnh trên đường phố

Một tay lái xe máy chở hàng cao “chọc trời”

 

—————————————————————————————————————————————————————————————————————————————–

Bức tranh Việt Nam qua wikileaks

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Madeleine Albright đang bắt tay một quan chức ngoại giao Việt Nam với Đại sứ Pete Peterson đứng cùng phía bà hồi tháng Chín năm 1999.Các điện tín mà Wikileaks công bố bắt đầu từ thời Đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên ở Việt Nam Pete Peterson, người đứng cạnh cựu Ngoại trưởng Madeleine Albright

Hơn 3000 bức điện gửi đi từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong vòng 10 năm với bốn đại sứ Hoa Kỳ khác nhau đã vẽ lên một bức tranh nhiều màu về Việt Nam hiện đại.

Các điện tín do Wikileaks công bố cũng cho thấy quan điểm của Washington đối với Việt Nam sau khi quan hệ được bình thường hóa.

Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đi khắp mọi nơi, gặp đủ mọi loại người trong xã hội và gửi về Bộ Ngoại giao điện tín về mọi vấn đề.

Họ tới các quán bar, karaoke và vũ trường ở Hà Nội để gửi về điện tín “Sex and the City” tạm dịch “Tình dục và thủ đô”.

Họ vào các quán sách để đánh đi điện tín những cuốn sách nào không có mặt ở Hà Nội.

Họ gặp con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn để tìm hiểu về cuộc chiến chống tham nhũng.

Họ gặp các nhà báo và nói chuyện về tự do ngôn luận.

Họ gặp những người khác quan điểm với chế độ để hỏi ý kiến của họ về tự do chính trị tại Việt Nam.

Họ cũng yêu cầu phía Việt Nam tăng địa bàn hoạt động của Lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh để nhân viên ngoại giao có thể tới nhiều tỉnh thành của Việt Nam hơn.

Thậm chí Hoa Kỳ còn gắn việc mở Lãnh sự quán Việt Nam ở Houston với việc mở rộng địa bàn hoạt động của Lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh.

Về mặt tích cực, bức tranh chung về Việt Nam có thể thấy qua các điện tín là một xã hội ngày càng cởi mở hơn, đời sống vật chất khấm khá hơn và cơ hội làm ăn cho các doanh gia ngày một nhiều.

Về mặt tiêu cực, các nhà lãnh đạo Việt Nam quá nặng về kiểm soát thay vì cung cấp dịch vụ cho người dân, quá chú ý tới hình thức mà ít để ý tới nội dung và quá quan tâm tới lợi ích của Đảng trong khi thiếu tính bao dung với dân chúng.

‘Vật cản’

Trong các cuộc nói chuyện với Hoa Kỳ, một số nhà lãnh đạo ở các cấp và các tỉnh thành của Việt Nam có vẻ mong muốn đẩy nhanh tốc độ cải cách trong đó có cải cách chính trị.

Nhưng những người ủng hộ cải cách chính trị, Washington nhận định, chỉ là “thiểu số” và sự phát triển ở Việt Nam trong lĩnh vực này sẽ tiếp tục trì trệ.

Điện tín đánh đi hôm 22/1/2007 từ Lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh nhận định sau cuộc gặp với Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Đà Nẵng Trần Văn Minh [hiện là Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng]:

“So sánh sự phát triển của Đà Nẵng với giao thông hỗn độn ở Việt Nam, Chủ tịch Minh nói với Phó Tổng lãnh sự rằng không giống như ở phương Tây, nơi lái xe có thể nhấn ga và phóng như bay trên xa lộ thẳng tắp, ở Việt Nam lái xe phải “thông minh và bẻ bánh lái quanh những vật cản trên đường phố.”

Trong điện tín Hoa Kỳ cũng thể hiện mong muốn Việt Nam có những nhân vật có đầu óc cởi mở trong chính quyền để họ có thể hợp tác và giúp Việt Nam phát triển.

Vai trò của Đảng

Đông đảo bạn trẻ tham gia biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội hôm 14/8Hoa Kỳ nói thế hệ trẻ đại diện cho tương lai của Việt Nam trong khi thế hệ già vẫn còn nặng về quá khứ

Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ có vẻ nhận định Đảng Cộng sản là người hãm phanh các cải cách và các mối quan hệ của Việt Nam đối với phương Tây.

Nhiều điện tín nói về sự “ám ảnh” của Đảng Cộng sản với “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến.”

Họ cũng nói về mối nghi ngờ của các quan chức cao cấp của Đảng đối với Washington.

Nhưng một điện tín do Đại sứ Michael Michalak gửi về hồi tháng Bẩy năm 2009, thời điểm xảy ra vụ bắt giữ một số nhà hoạt động trong đó có luật sư Lê Công Định, đánh giá rằng lãnh đạo về phía Đảng và về phía Nhà nước cũng chia sẻ mối lo ngại chung về những nhóm, những nhân vật có thể làm chế độ lung lay.

Washington nói Đảng và chính quyền có vẻ hay giương gậy để trấn áp những công dân không nghe lời của chính mình mỗi khi có những đợt tạm lắng trong đó họ chưa hoặc không cần tới “củ cà rốt” của Hoa Kỳ và phương Tây.

Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ xem giới lãnh đạo đã già của Việt Nam là đại diện cho quá khứ trong khi những người trẻ tuổi đại diện cho tương lai.

‘An ninh trị’

Một trong các điện tín đánh đi từ Hà Nội cũng dùng từ “Securocrat” tức “An ninh trị” để gọi các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Nhiều bức điện khác nhau kể lại chuyện Bộ Công an đã đưa ra những cáo buộc về chuyện các nhà ngoại giao Hoa Kỳ gặp gỡ “bí mật” hay “khuyến khích” các nhân vật “chống nhà nước”.

Các câu trả lời của phía Hoa Kỳ luôn là họ đi tới đâu cũng có sự đồng ý hoặc giám sát của phía chính quyền hay công an Việt Nam và không thể có chuyện “bí mật” gặp gỡ.

Và Hoa Kỳ luôn bảo vệ quyền gặp mọi đối tượng thuộc mọi giới trong xã hội Việt Nam.

Về sự nghi kỵ và giám sát của phía Việt Nam đối với Hoa Kỳ, điện tín “How not to make friends”, tạm dịch “Những việc không nên làm khi kết bạn” đã kể chi tiết việc công an Việt Nam “bám đuôi” và cản trở các cuộc gặp của phái đoàn từ Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ ở Việt Nam hồi năm 2002.

Điện tín nhận định “Những cố gắng của Chính phủ Việt Nam, mà về căn bản họ không giấu diếm, để kiểm soát phái đoàn để lại ấn tượng tồi tệ hơn về Việt Nam so với nội dung của các cuộc gặp mà Chính phủ Việt Nam có vẻ quá lo ngại.”

Những cố gắng của Chính phủ Việt Nam, mà về căn bản họ không giấu diếm, để kiểm soát phái đoàn để lại ấn tượng tồi tệ hơn về Việt Nam so với nội dung của các cuộc gặp mà Chính phủ Việt Nam có vẻ quá lo ngại.

Những cố gắng này bao gồm việc an ninh Việt Nam “bám đuôi” và vờ vào lễ chùa để nghe các cuộc nói chuyện, sách nhiễu những người muốn hay đã gặp phái đoàn, đề nghị phái đoàn đi xe của phía Việt Nam (và yêu cầu phải trả tiền) hay bố trí thật nhiều cuộc gặp chính thức để phái đoàn không còn thời gian gặp những nhân vật họ muốn gặp.

Năm năm sau đó, một điện tín mật hồi tháng Tư năm 2007 nói “cố gắng lần thứ hai của Đại sứ [Michael Marine] nhằm tổ chức một sự kiện tại nhà riêng với gia đình của các nhà bất đồng chính kiến chính trị đã bị cảnh sát ngăn chặn.”

“Bốn trong số năm người được mời đã hoặc bị ngăn không cho rời nhà hoặc bị giữ ở đồn công an để họ không đến được nhà Đại sứ.”

Bệnh ‘hình thức’

Một số bức điện mật trải dài trong các năm khác nhau cũng đề cập tới mối quan tâm quá nhiều tới hình thức ở Việt Nam và ít quan tâm tới nội dung.

Khi bà Hillary Clinton tháp tùng Tổng thống Bill Clinton Hà Nội hồi cuối năm 2000 và muốn có tọa đàm với các phụ nữ Việt Nam, phía Việt Nam quan tâm nhiều hơn tới hình dạng của chiếc bàn, vị trí bà Clinton sẽ ngồi, số đại biểu mỗi bên tham dự và chỗ họ sẽ ngồi hơn cả nội dung mỗi bên sẽ nói.

Bà Hillary Clinton và con gái Chelsea trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 11 năm 2000Phía Hoa Kỳ “kinh ngạc” khi Việt Nam sẵn sàng chấp nhận khả năng sẽ không có tọa đàm giữa bà Clinton với phụ nữ Việt Nam hồi năm 2000 chỉ vì chiếc bàn và vị trí ngồi của chủ và khách

Điện tín hồi tháng Mười Hai năm 2000 nói những tranh cãi kéo dài quanh những vấn đề này khiến đại diện của bà Clinton nói với phía Việt Nam rằng ông đã gần tới nước phải hủy tọa đàm và sẽ tổ chức một sự kiện riêng cho bà Clinton mà không có sự tham gia của phía chính quyền.

Việc Việt Nam không muốn bà Clinton ngồi ở trung tâm bàn tọa đàm hình bán nguyệt mà chia sẻ vị trí này cùng một đại diện Việt Nam khiến phía Hoa Kỳ nhận định:

“Thật đáng kinh ngạc, phía Chính phủ Việt Nam sẵn sàng chấp nhận khả năng cuộc tọa đàm về các vấn đề phụ nữ sẽ bị hủy chỉ vì vấn đề tượng trưng là bà không được ngồi ở giữa bàn.

“Điều này nhắc người ta nhớ lại những tranh cãi kéo dài nhiều tháng về hình dạng chiếc bàn trong Hòa đàm Paris cách đây nhiều thập niên.”

Giọng văn trong các điện tín mật của Hoa Kỳ có vẻ cho thấy Washington dường như đã thực sự quên đi Cuộc chiến Việt Nam để “bắc cầu qua dòng sông đau khổ” như lời Đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Việt Nam Douglas Pete Peterson tuyên bố khi tới Hà Nội hồi năm 1997.

Những thông điệp mà các nhà ngoại giao Mỹ gửi đi từ Việt Nam thường đánh giá cao mong muốn hợp tác với Hoa Kỳ của phía Việt Nam và đề nghị Washington có những động thái để quan hệ song phương có chiều sâu hơn, chẳng hạn không đưa Việt Nam vào danh sách Các nước Cần quan tâm Đặc biệt về tôn giáo CPC.

Và trong khi Việt Nam xem các động thái của Hoa Kỳ liên quan tới nhân quyền là “sự can thiệp vào nội bộ”, các điện tín cho thấy kẻ cựu thù của Việt Nam chỉ đơn giản coi đó là việc bảo vệ những quyền con người căn bản nhất – quyền được có quan điểm và nói ra quan điểm, quyền được tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, tự do lập hội và hội họp.

Các điện tín của Hoa Kỳ cũng nói họ thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa cách suy nghĩ của các nhà lãnh đạo hiện nay và của thế hệ trẻ ở Việt Nam, những người vẫn được gọi là “thế hệ a còng”.

Nhưng giới ngoại giao Hoa Kỳ không nhất thiết xem đây là điều tiêu cực.

Ngược lại họ coi đó là dấu hiệu cho thấy những thay đổi theo hướng tích cực ở Việt Nam sẽ xảy ra trong tương lai.

@bbc

—————————————————————————————————————————————————————————————————————————————–

Thế liên hoàn Mỹ – Úc – Ấn – Nhật chống Trung Quốc

Trọng Nghĩa
CHÂU Á
Vào cuối năm nay, Hoa Kỳ và Úc sẽ tăng cường đáng kể quan hệ quân sự; Ấn Độ và Mỹ cũng rốt ráo thúc đẩy một cơ chế đối thoại an ninh tay ba bao gồm cả Nhật Bản; tân lãnh đạo chính quyền Tokyo cũng sẽ công du New Delhi để thắt chặt thêm quan hệ Nhật Ấn.Một thế liên hoàn đang dần hình thành để đối phó với tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc.
Theo các nhà quan sát, chính các hành động gần đây của Trung Quốc là nguyên nhân thúc đẩy 4 cường quốc châu Á Thái Bình Dương nói trên xích lại gần nhau hơn, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng.
Cụ thể nhất là xu hướng củng cố thêm liên minh quân sự Mỹ – Úc. Vào hôm nay, cả ngoại trưởng lẫn bộ trưởng quốc phòng hai nước gặp nhau tại San Francisco để đúc kết nhiều thỏa thuận quan trọng về phương diện quốc phòng, từng được đánh giá là một bước tiến lớn nhất trong quan hệ quân sự Mỹ Úc từ 30 năm nay.
Các thỏa thuận này sẽ mở đường cho quân đội Mỹ quyền tự do tiếp cận các căn cứ tại Úc, cung cấp cho Hoa Kỳ với một chỗ đứng vững chãi nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ vào năm ngoái đã cam kết là sẽ chuyển thêm lực lượng qua khu vực Đông Nam Á, trong đó có cả việc cùng với Úc chia sẻ quyền sử dụng các hải cảng và căn cứ. Một quan chức quốc phòng cấp cao xin giấu tên đã tiết lộ với hãng tin AFP rằng quân đội Mỹ có thể bố trí sẵn thiết bị của mình trên đất Úc, sử dụng dễ dàng hơn các cơ sở và hải cảng của Úc.
Trả lời báo Anh Financial Times, ông Patrick Cronin, chuyên gia quân sự đặc trách vùng Đông Á tại trung tâm nghiên cứu Center for a New American Security của Mỹ cho rằng : “Úc đóng một vai trò bản lề trong khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương,”. Đối với ông, việc Mỹ tăng cường quan hệ quân sự với Úc “Sẽ vượt quá khuôn khổ đào tạo và quyền trú quân đơn thuần, mà sẽ giúp cho toàn thể khu vực được yên tâm hơn”.
Theo các nhà phân tích, Trung Quốc ngày càng lộ rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông và một số nơi khác, tăng cường tiềm lực hải quân, đồng thời không ngần ngại có động thái đe dọa, chèn ép hầu hết các nước gọi là có tranh chấp với họ, từ Việt Nam, Philippines cho đến Nhật Bản và mới đây là Ấn Độ. Sự kiện đó là nhân tố gây quan ngại không chỉ cho những nước bị Trung Quốc lấn lướt, mà cho cả Hoa Kỳ, cường quốc cho đến nay, vẫn đóng vai trò bảo đảm ổn định cho khu vực Thái Bình Dương.
Chính đó là chất xúc tác thúc đẩy Hoa Kỳ tăng cường quan hệ quân sự với Úc đồng minh thân thiết lâu đời của mình trong vùng. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng thắt chặt quan hệ với Nhật Bản và nhất là với một đồng minh mới hơn là Ấn Độ.
Hôm thứ Hai 12/09 vừa qua, tại Washington, đã mở ra cuộc đối thoại chiến lược Mỹ Ấn lần thứ tư về khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Hai bên đã thảo luận một loạt các vấn đề khu vực và toàn cầu như chuẩn bị cho Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á sắp tới tại Indonesia mà cả Ấn Độ lẫn Hoa Kỳ đều là thành viên. Đặc biệt là hai cường quốc này còn bàn thảo về cuộc họp đầu tiên của cơ chế đối thoại tay ba Mỹ-Nhật-Ấn, sẽ được mở ra từ nay đến cuối năm tại Nhật Bản.
Về phần mình, Nhật Bản trong thời gian gần đây, cũng không che giấu ý định tăng cường quan hệ với Ấn Độ để giảm bớt ảnh hưởng của Bắc Kinh. Theo một số nguồn tin từ chính quyền Tokyo vào hôm qua, thì tân thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda có thể sẽ đi thăm Ấn Độ ngay vào tháng 11 tới đây để tìm lực làm đối trọng với ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc trong vùng.
Phải nói rằng mới đây, Trung Quốc đã làm tăng thêm mối quan ngại tại Nhật Bản khi để cho báo chí chính thức của mình tuyên bố là vùng biển Hoa Đông, cũng thuộc phạm vi lợi ích cốt lõi của Bắc Kinh. Tại vùng biển này, Trung Quốc đang tranh giành chủ quyền trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư do Nhật Bản quản lý, và thường xuyên cho tàu vào khiêu khích lực lượng tuần duyên Nhật.
Theo hãng tin Nhật Bản Kyodo, tại New Delhi, ông Noda sẽ thảo luận với đồng nhiệm Manmohan Singh về ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc. Theo các nhà quan sát, một khi quan hệ Nhật Bản – Ấn Độ được thắt chặt, sự kiện đó sẽ củng cố thêm thế liên hoàn giữa 4 cường quốc Mỹ, Ấn, Nhật, Úc mà mắt xích yếu nhất cho đến nay là liên hệ New Delhi-Tokyo.
Tàu Hải tuần 31 của Trung Quốc thường được sử dụng để chứng tỏ chủ quyền trên biển. Ảnh chụp hồi tháng 3/2011.
——————————————————————————————————————————————————————————————————————————————-