Quan hệ quốc phòng Việt Nam-Trung Quốc đang phát triển tích cực

Đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Việt Nam do Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đã có chuyến thăm và làm việc tại Trung Quốc về Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN Cộng (ADMM+). Ngày 25-8, tại Bắc Kinh, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đã gặp gỡ báo chí Việt Nam và Trung Quốc. Xin giới thiệu với bạn đọc nội dung cuộc trao đổi thẳng thắn và cởi mở này.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh tới chào Thượng tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cho biết, Đoàn đại biểu Việt Nam đã có cuộc hội đàm với đồng chí Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc và tới chào đồng chí Thượng tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc. Tại cuộc hội đàm và gặp gỡ này, những quan điểm của Trung Quốc nêu ra phù hợp với những quan điểm, những vấn đề mà các nước ASEAN đã đồng thuận. Các đồng chí Trung Quốc cũng bày tỏ sự ủng hộ đối với Việt Nam với tư cách nước chủ nhà tổ chức thành công ADMM+.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng đã nhắc lại lời mời đồng chí Lương Quang Liệt tham dự ADMM+ của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh. Đồng thời, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng chuyển thư của Bộ Quốc phòng Việt Nam mời Thượng tướng Lương Quang Liệt sang thăm chính thức Việt Nam. Thượng tướng Lương Quang Liệt đã vui vẻ nhận lời mời và bày tỏ sự ủng hộ về công tác chuẩn bị cho ADMM+ của Việt Nam cũng như bày tỏ mong muốn sang thăm Việt Nam. Thượng tướng Lương Quang Liệt cho biết, sau khi làm việc với các cơ quan hữu quan của Trung Quốc, đồng chí sẽ sớm có câu trả lời. “Chúng tôi cho rằng, sự có mặt của đồng chí Lương Quang Liệt tại Hội nghị ADMM+ sẽ có tác dụng rất tích cực cho thành công của Hội nghị cũng như tăng cường đoàn kết hữu nghị, tin cậy lẫn nhau giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tóm lại có thể nói rằng, chuyến thăm của chúng tôi diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng đã đạt được kết quả tốt đẹp”, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh.

Sau khi thông báo kết quả của chuyến thăm, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đã dành thời gian trả lời câu hỏi của các phóng viên:

Mạng Hoàn Cầu (Trung Quốc): Xin đồng chí đánh giá vai trò của Trung Quốc đối với các nước ASEAN? Có một số phân tích cho rằng hiện nay Mỹ đang tìm kiếm đồng minh quân sự của mình trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đồng chí có đồng ý với đánh giá đó không và Việt Nam có trở thành đồng minh quân sự của Mỹ hay không?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Chúng tôi cho rằng, Trung Quốc có vai trò quan trọng đối với các nước ASEAN nói chung cũng như sự có mặt của Bộ Quốc phòng Trung Quốc có vai trò hết sức quan trọng trong diễn đàn ADMM+ nói riêng. Nói như thế trước hết vì Trung Quốc là một nước lớn, có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, là một nước đang phát triển mạnh mẽ và có vị trí địa lý nằm ngay gần với các nước ASEAN. Bên cạnh đó, lĩnh vực mà ADMM+ đang hướng tới là đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống. Đây là lĩnh vực mà Trung Quốc rất có kinh nghiệm, có trách nhiệm.

Về các phân tích cho rằng Mỹ đang tìm kiếm đồng minh quân sự tại khu vực này hay không, thì tôi cho rằng không nên vội vàng khi đánh giá về chiến lược của các nước, nhất là các nước lớn. Về phần Việt Nam, chúng tôi sẽ không bao giờ trở thành đồng minh quân sự của Mỹ. Và không chỉ với Mỹ, Việt Nam sẽ không trở thành đồng minh quân sự của bất kỳ quốc gia nào. Chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước chúng tôi thể hiện nhất quán phương châm “ba không”: Không tham gia các liên minh quân sự, hoặc là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào; Không cho bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam; Không dựa vào nước này để chống nước kia.

Nhân dân Nhật báo (Trung Quốc): Trong thời gian gần đây có một số sự kiện đáng chú ý là ngày 17-8 diễn ra cuộc đối thoại quân sự Việt-Mỹ và trong tháng 7, Mỹ có rất nhiều hành động ngoại giao trong khu vực châu Á, Đông Nam Á. Cũng trong tháng 7 và tháng 8, Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc đã thực hiện nhiều cuộc diễn tập quân sự. Ngoài ra, tàu quân sự Mỹ đã có hoạt động trên Biển Đông cách bờ biển Việt Nam 300 hải lý. Ngày 10-8, tàu quân sự của Mỹ đã thăm Việt Nam và có các hoạt động phi quân sự. Báo chí nước ngoài bình luận là chính sách đối ngoại của Việt Nam hiện đang thay đổi. Mỹ đã có sự quay trở lại về quân sự vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Việt Nam đã điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình. Đồng chí có đồng ý với bình luận này không? Và nếu đồng ý thì sẽ nảy sinh ảnh hưởng quan hệ như thế nào đối với Việt Nam-Trung Quốc và Mỹ?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Trước hết, tàu sân bay Mỹ USS George Washington vừa qua đi trên đường hàng hải quốc tế cách Đà Nẵng khoảng 200 hải lý, trong vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Thành phố Đà Nẵng của Việt Nam đã cử đoàn ra thăm tàu. Sau đó, tàu USS John S. McCain đã vào thăm cảng Đà Nẵng. Đây là hoạt động hết sức bình thường diễn ra hằng năm trong quan hệ đối ngoại quốc phòng của Việt Nam và đã được chuẩn bị từ trước. Đây cũng là hoạt động mà Việt Nam không chỉ làm với tàu Mỹ mà Việt Nam cũng đã đón tàu của các nước khác, trong đó có Trung Quốc. Về phía Mỹ cũng đã tổ chức các hoạt động tương tự với nhiều nước trong khu vực, trong đó có cả Trung Quốc cũng như các nước ASEAN ven Biển Đông. Chúng tôi không muốn các bạn suy diễn và gắn vấn đề này với những động thái mới của Mỹ trong khu vực thời gian vừa qua, mà hãy coi đó là những hoạt động hết sức bình thường.

Không nên đặt Việt Nam – Mỹ – Trung Quốc trong mối quan hệ tay ba như vậy, mà cần tách bạch quan hệ Việt – Trung và quan hệ Việt – Mỹ. Có thể khẳng định rằng Việt Nam sẽ không có thay đổi gì trong những mối quan hệ này. Tuy nhiên, quan hệ Việt Nam với Trung Quốc khác nhiều so với quan hệ Việt Nam với Mỹ, cũng như quan hệ Việt Nam với các nước khác. Chúng tôi luôn coi Trung Quốc là một nước láng giềng, Trung Quốc là một nước xã hội chủ nghĩa. Hai nước có quan hệ tốt đẹp nhất là từ khi hai Đảng Cộng sản ra đời. Lãnh đạo hai nước đã khẳng định phương châm 16 chữ trong quan hệ giữa hai nước. Mới đây, hai nước đã nâng cấp lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Việc Việt Nam và Trung Quốc tăng cường hợp tác quốc phòng cũng nằm trong khuôn khổ phát triển đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Đứng trước những đổi mới về tình hình gần đây, Việt Nam không thay đổi đường lối đối ngoại. Đó là đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước, đặc biệt là các nước láng giềng và nước có cùng chế độ xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc.

Đài Phát thanh Bắc Kinh: Thưa đồng chí Thứ trưởng, năm nay kỷ niệm 60 năm hai nước Trung-Việt có quan hệ ngoại giao, đồng thời cũng là Năm hữu nghị Trung-Việt, đặc biệt là những ngày tới đây Việt Nam sẽ tổ chức kỷ niệm 65 năm Ngày Quốc khánh. Có thể nói rằng đây là năm rất tốt đẹp. Cũng trong năm nay, Bộ Quốc phòng Việt Nam có nhiều chuyến thăm Trung Quốc của lãnh đạo cấp cao. Phải chăng đây là những chuyến thăm rất có ý nghĩa, ý nghĩa trong ý nghĩa và trong những chuyến thăm ấy có nhiều nội dung liên quan đến hợp tác của hai nước. Xin hỏi rằng những nội dung hợp tác giữa hai nước phải chăng đã được thực hiện, từ nay về sau sẽ có những dự án hợp tác cụ thể nào khác nữa về lĩnh vực Quốc phòng giữa hai nước?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Tôi thực sự vui mừng khi được gặp ở đây một người Trung Quốc hiểu biết về Việt Nam, và có cái nhìn thiện cảm đầy tình anh em đối với chúng tôi như vậy. Năm nay Việt Nam có rất nhiều sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng, chúng ta có thể kể thêm Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội và các ngày lễ lớn khác. Trong bối cảnh như vậy, thì cũng là dịp Việt Nam-Trung Quốc kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Về mặt quốc phòng, tính từ đầu năm đến nay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã sang thăm Trung Quốc. Tôi hai lần sang thăm Trung Quốc. Từ đầu năm đến nay đồng chí Thượng tướng Mã Hiểu Thiên cũng đã gặp chúng tôi hai lần tại Diễn đàn Shangrila và Đà Nẵng. Ngoài ra còn nhiều đoàn khác của Trung Quốc và Việt Nam sang thăm nhau, điều đó phản ánh sự đa dạng, phong phú trong quan hệ quốc phòng giữa hai nước.

Từ nay đến cuối năm, Việt Nam và Trung Quốc sẽ gặp nhau ở ADMM+. Sau đó, Đối thoại chiến lược Quốc phòng cấp Thứ trưởng lần đầu tiên giữa tôi và đồng chí Mã Hiểu Thiên tại Hà Nội vào quý IV. Chúng tôi coi trọng cuộc đối thoại này và ngay từ bây giờ, chúng tôi và các đồng chí Trung Quốc đang tích cực chuẩn bị cho cuộc đối thoại.

Đặc biệt, nếu đồng chí Thượng tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc thu xếp được thời gian sang dự ADMM+ đồng thời kết hợp thăm chính thức Việt Nam thì đây sẽ là sự kiện lớn trong quan hệ quốc phòng giữa hai nước, mang dấu ấn tốt đẹp trong Năm hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc cũng như năm chúng ta có ADMM+ lần đầu tiên.

– Đồng chí có đánh giá gì về quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Trung Quốc? Hiện nay có rất nhiều mối quan tâm về Biển Đông, xin đồng chí đánh giá về vấn đề này?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Tôi cho rằng quan hệ quốc phòng Việt Nam – Trung Quốc đang có bước phát triển tích cực. Nó nằm trong bối cảnh chung quan hệ giữa hai đảng, hai Nhà nước và hai dân tộc. Ngoài ra, quan hệ quốc phòng còn có ý nghĩa đặc biệt trong xây dựng lòng tin giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Về vấn đề Biển Đông, đây là vấn đề lớn đã được bàn ở nhiều diễn đàn khác. Tôi chỉ muốn nói rằng những quan điểm chính thức có tính nguyên tắc của Đảng và Nhà nước Việt Nam trước sau như một không thay đổi, đó là giải quyết vấn đề Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Đài Tiếng nói Việt Nam (thường trú tại Bắc Kinh): Xung quanh mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ trong thời gian gần đây, một số báo chí nước ngoài, trong đó có báo chí Trung Quốc đã bình luận rằng Việt Nam đang muốn dựa vào Mỹ, lôi kéo Mỹ để kiềm chế và cân bằng với Trung Quốc, xin Thứ trưởng cho nhận xét về vấn đề này?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Câu hỏi của anh có hai khía cạnh, trước hết là Việt Nam có muốn dựa vào Mỹ và lôi kéo Mỹ hay không? Tôi khẳng định, Việt Nam không dựa và không lôi kéo Mỹ vào bất kỳ mục đích gì, đặc biệt là các mục đích về an ninh. Ý thứ hai là kiềm chế Trung Quốc? Việt Nam không bao giờ có ý định kiềm chế Trung Quốc ở bất kỳ lĩnh vực nào, ở thời điểm nào. Việt Nam vui mừng khi thấy Trung Quốc phát triển.

Sau khi tôi tham dự Đối thoại Quốc phòng Việt – Mỹ, báo chí cũng có câu hỏi gần giống như thế. Tức là, Trung Quốc phát triển mạnh như vậy, phát triển quốc phòng mạnh như vậy thì Việt Nam suy nghĩ gì? Tôi đã trả lời: Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có quan hệ đại cục rất tốt đẹp, cho nên trước sự phát triển của Trung Quốc, trong đó có phát triển quốc phòng, Việt Nam ủng hộ và vui mừng. Sự ủng hộ ấy xuất phát từ mong muốn và niềm tin rằng, Trung Quốc sẽ không sử dụng sức mạnh của mình để làm phương hại tới chủ quyền và lợi ích của các nước khác và cũng không sử dụng sức mạnh ấy làm phương hại tới hòa bình và ổn định của khu vực và trên thế giới.

Ví dụ, sức mạnh quốc phòng Trung Quốc mà tham gia tích cực vào ADMM+ trong cứu hộ, cứu nạn, cứu trợ thảm họa thì quả thật là điều tốt cho cả Trung Quốc lẫn khu vực.

Tôi mong muốn báo chí thông tin trung thực, khách quan nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc, trong đó có quan hệ quốc phòng. Quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước nói chung và quan hệ quốc phòng nói riêng hiện nay có rất nhiều chuyện, nhiều vấn đề tích cực, nhiều tấm gương sáng. Về quan hệ quốc phòng, chúng tôi sẵn sàng chia sẻ thông tin với các bạn để chúng ta có được một cái nhìn đúng đắn, có thiện cảm và tin cậy lẫn nhau.

Trần Linh (ghi)
@Quândoinhandan

—————————————————————————————————————————————————-

Cô bé 14 tuổi cao 2 mét 06

Elisany Silva người Brazil sinh ngày 27 tháng 9-1995 . Mới 14 tuổi em đã có chiều cao 2m06 là cô gái  cao nhất so với các bạn trẻ ở lứa tuổi này.

Có triển vọng cô sẽ trở thành người mẫu thời trang như nhiều cô gái Brazil khác chăng ?


—————————————————————————————————————————————————————————————————

Ca sỹ Sylvie Vartan với những ca khúc để đời

Sylvie Vartan sinh năm 1944 tại Sofia, Bulgaria . Bố Bulgarian gốc Arménien,Mẹ người Hungary . Năm 1952,cả gia đình sang định cư tại Paris ,Pháp,khởi nghiệp ca hát từ 1961 cho tới nay.

Thời đó Sylvie Vartan đã được mệnh danh một trong những ca sỹ Yé Yé xinh đẹp ăn khách nhất cuả Pháp nói riêng và thế giới nói chung.

“La plus belle pour aller danser” (paroles et musique de Charles Aznavour), bài hát dành cho phim “Les Parisiennes”. Một bài hát thế hệ đôi mươi ngày ấy, ai thích nhạc ngoại quốc cũng đều nghe qua. Nghe vì âm điệu nhạc pop hay, mới mẻ, lời lẽ nhẹ nhàng, tượng hình người con gái đẹp nhất đêm nay.

“Đêm nay, đi khiêu vũ, em sẽ là người đẹp nhất, để được anh yêu, để được nghe anh thủ thỉ những lời êm ái nhất…..Đêm nay, tuổi xuân, tình yêu, nụ hôn đầu, tất cả em dành cho anh. Em sẽ phải là cô gái đẹp nhất đêm nay…”..

Người trai trẻ đôi mươi, nghe những lời này ai chẳng mộng mơ!
Sylvie Vartan trình diễn bản này tại Paris năm 1964, mới tròn 20 tuổi. Dáng dấp thật ‘mignone”, từ kiểu tóc đến y phục rất “à la mode”.

Cũng bản này,Sylvie Vartan hát năm 2007 (43 năm sau), arrangement chậm lại, xen phần đệm guitar rã rời nơi vài đoạn,khiến giọng hát bà nghe có phần nào mệt mỏi uể oải .

Bây gìờ, xin mời thưởng thức giọng hát của Sylvie Vartan 1964 & 2007

La Plus Belle Pour Aller Danser ( 1964 )

Tous les garcons et les filles

————————————————————————————————————————————————————————————————–

ĐỌC TRUYỆN CUỐI TUẦN – CÓ MỘT NGƯỜI TÊN V.HUY

Đổ Duy Ngọc

Hắn tên là V. Huy, thật ra tên đầy đủ của hắn là Nguyễn Phúc Vĩnh Huy, vốn là con cháu giòng họ vua chúa triều Nguyễn. Bố hắn là giáo sư tiến sĩ, từng chữa bệnh cho Cụ Hồ. Ông nội hắn là Thượng thư bộ Lại trong triều vua gì đó của nhà Nguyễn. Mẹ hắn cũng là giáo sư nhưng hình như bên ngành Luật, tốt nghiệp từ bên Tây, nghe lời dụ dỗ của Cụ Hồ về nước tham gia đánh giặc. Lí lịch của hắn quá ư là đẹp, vừa quí tộc vừa cộng sản, không chê vào đâu được. Hắn tốt nghiệp Tiến sĩ ngành ngoại giao ở Liên Xô, cũng nghe nói là bằng đỏ đàng hoàng, và chắc chắn là bằng thật. Thế mà hắn lại xổ toẹt cái lí lịch đó, đái lên cái truyền thống đẹp như mơ đó. Hắn không bao giờ chịu thổ lộ cái tên trong khai sinh cho bất kì ai, và luôn luôn tự xưng tên tôi là V. Huy, cắt đứt mọi liên hệ với cái gia đình danh giá. Cũng chẳng biết tại sao. Và mọi người cũng không rảnh thì giờ để điều tra chuyện đó.

Tôi gặp hắn lần đầu trong quán cà phê. Quen qua quen lại mà thành thân gần tám năm nay. Hắn là một thằng có cá tính. Mà lại là cá tính quái dị. Tôi cũng vốn là một người quái đản – theo mọi người chung quanh bảo thế – nên khi gặp hắn là thành thân ngay, đi đâu cũng có nhau. Ngưu tìm ngưu, mã tìm mã mà.

Hắn có khuôn mặt của John Lennon: ngây thơ mà tinh quái. Cũng nét mặt gầy, mũi thẳng, tóc xoăn để dài đến bờ vai, chỉ khác là tóc màu đen. Hắn cũng đeo kính cận gọng tròn, nặng độ, dày như đít chai. Lúc nào hắn cũng kè kè cái ba lô nặng trĩu chứa tùm lum nào sách, nào khăn, nào đủ thứ như một túi rác. Nhưng hắn bảo hắn chứa cả càn khôn trong đó.

Hắn chỉ có độc một bộ đồ, chiếc áo jean bạc màu, áo jacket màu cứt ngựa có nhiều túi và cũng nhiều fermature. Chiếc quần jean rách ở đầu gối và sờn ở hai mông đít. Đôi giày lính Mỹ cao cổ loang lổ và ám bụi đường. Hắn không bao giờ giặt áo quần, cứ mặc cho đến tả tơi lại đi tìm bộ khác cũng y như thế. Công nhận hắn cũng giỏi săn lùng vì suốt tám năm quen hắn, tôi có cảm tưởng hình như hắn chẳng bao giờ thay kiểu quần áo.

Hắn là một thằng thông minh, rất thông minh. Và cũng uyên bác, rất uyên bác. Tôi là người rất ngạo mạn, ít khen ai và cũng ít nể ai, luôn khinh khi những thằng tiến sĩ dỏm nhiều như quân Nguyên chạy đầy đường. Nhưng gặp hắn, quen hắn, biết hắn thì tôi phải khen ngợi hắn thật lòng. Hắn nói tiếng Anh như dân xuất thân từ Oxford , đúng giọng và ngữ điệu. Hắn vi vu tiếng Pháp giọng Paris và hơn thế nữa là dùng ngôn ngữ từ Sorbonne ra. Hắn nói tiếng Ý như mưa rào và tiếng Nga thì thôi rồi, nghe không khác gì Putin. Hắn cũng giỏi tiếng Hán, viết thư pháp như múa, đặc biệt là chữ thảo, đọc toàn sách cổ văn, đọc tiếng Đức ầm ầm như bão tố. Ngoài ra hắn còn giỏi tiếng Bồ Đào Nha, đọc kinh Phật bằng tiếng Pali và nói thông thuộc tiếng Khmer. Hay nhất là dù hắn có mười mấy năm ở nước ngoài, có bằng Tiến sĩ ở Nga nhưng lại nói tiếng Việt rất chuẩn, tròn vành rõ chữ và dùng từ thì không chê vào đâu được. Nói tóm lại, xét về mặt ngôn ngữ, hắn là thằng trùm thiên hạ.

Không biết chính xác hắn ở đâu. Lúc thì bảo ở quận tư, có khi lại ở quận tám. Tóm lại hắn là thằng giang hồ. Một thằng trí thức nhất trong những thằng trí thức đúng nghĩa của Việt Nam đang là kẻ không nhà. Hắn là thằng ma – cà – bông. Cứ khoảng chín giờ sáng là có mặt hắn ở quán cà phê, kêu li đen và ngồi rít thuốc liên tục. Bất cứ vấn đề gì hắn cũng có thể nói được, và nói rất sâu. Gặp những từ ngữ cần chính danh, hắn có thể lấy giải nhĩa từ nguyên chữ Hán và có khi từ chữ gốc của tiếng La tinh. Hắn có thể nói từ chuyện văn chương kim cổ cho đến những phát minh từ xưa đến nay của loài người. Hắn giảng về Socrate, Platon cho đến các triết gia cận đại. Hắn nói về Mác thì ai cũng ngóng cổ lên mà nghe bởi vì toàn những vần đề mà những ngài tuyên huấn cộng sản không bao giờ biết đến và phân tích nổi. Khi hắn phân tích cách mạng Trung Hoa, cách mạng Việt Nam, rồi tương lai của toàn thế giới thì mọi người há mỏ nghe không ngậm lại được, mặt ai cũng nghệch ra như ngỗng ỉa. Trong mọi cuộc bàn luận, hắn trở thành trung tâm. Khi chưa có mặt hắn ở khu vực này, tôi được mọi người phong cho là bách khoa toàn thư, chuyện gì cũng biết. Nhưng từ khi có hắn, tôi như đèn dầu le lói mà hắn thì sáng như đèn pha. Ngay như chuyện chó mèo, chim cò, rắn rít, thú hoang hắn cũng rành như ông giáo sư Võ Qúy. Chuyện gì hắn cũng biết, mà biết rõ ngọn ngành rành mạch mới siêu chứ. Khi hắn đã nói thì chẳng còn ai có thể cãi lại hắn được. Với cái đầu của hắn, nếu được làm lãnh đạo hắn có thể l à người lãnh đạo giỏi hay ít nhất đất nước sẽ nở mày nở mặt khi hắn tiếp xúc với năm châu bốn bể. Nhưng hắn lại là thằng lang thang, sống bằng những bài dịch tin nước ngoài cho mấy tờ báo lá cải. Trong khi mấy thằng ngu thì chức cao quyền trọng, ghế cao chót vót. Đời là vậy đấy! C’est la vie!!

Theo những tin tức vỉa hè thì hồi mới về nước thì hắn cũng đi làm ở bộ ngoại giao. Là nhân viên của một cục, một vụ gì đấy. Nhưng vì hắn quá giỏi lại quá ngông, không chịu nghe theo những chỉ thị ngu xuẩn của lãnh đạo nên cuối cùng bị đẩy xuống làm anh chạy văn thư. Vì cảm thấy nhục, hắn cũng kiện tụng tùm lum mà chẳng đi đến đâu nên bỏ sở mà làm kẻ lang thang. Tôi nghĩ tánh khí ngang tàng không khuất phục chính là nguyên nhân bi kịch chối từ gia đình của hắn.

Cách đây mấy năm, tôi có người bạn Pháp, một chuyên gia sưu tầm cổ vật Đông phương sang Việt Nam mua được một chậu sứ Trung Hoa rất cổ, hình như là đời đầu Minh. Chậu sứ vẽ cảnh mục đồng chăn trâu men xanh rất đẹp. Nét vẽ uyển chuyển và tinh tế của một nghệ nhân bậc thầy. Ông bạn tôi mấy lần mang về Pháp đều bị chận lại vì hải quan không cho mang cổ vật ra khỏi nước. Chuyện đến tai hắn, hắn bảo sẽ mang đi được với điều kiện bạn tôi mua vé khứ hồi cho hắn kèm theo 1500 Euro cho hắn tiêu mấy ngày ở bên đó. Bạn tôi ok ngay. Và hắn mang đi được thật mà chẳng cần xin xỏ, khai báo gì cả. Dịp đó hắn đi hết mấy nước châu Âu; gần hai tháng sau hắn mới về. Hỏi hắn làm sao, hắn bảo có khó đéo gì đâu, vào đến phi trường tớ đến ngay quầy bán hoa lan của Đà Lạt, mua một giỏ hoa lan có cả chậu, vào ngay phòng vệ sinh, bỏ chậu ra, lấy chậu sứ thay vào. Thế là ung dung xách giò lan bước lên máy bay chẳng thằng nào, con nào hỏi một tiếng. Ai cũng bảo hắn giỏi. Hỏi hắn ở bên đó hai tháng lấy gì mà ăn, hắn bảo hắn làm hướng dẫn viên du lịch. Đến thành phố nào cứ thấy mấy thằng du khách ngơ ngác thì hắn sấn tới làm quen sau đó hướng dẫn người ta đi tham quan. Hỏi hắn chưa bao giờ đi qua đó, biết đếch gì mà hướng dẫn. Hắn gào lên xin lỗi mọi người à, trước khi đi tôi đã học thuộc mấy cuốn sách hướng dẫn du lịch của hơn mười nước Châu Âu rồi. Nghe sợ chưa?

Có lần tôi với hắn đi nghe một tay giáo sư người Mỹ nói chuyện văn chương, trong giờ giải lao, hắn bước đến nói chuyện với tay giáo sư đó. Chẳng biết nó nói những gì mà khi trở lại sân khấu để tiếp tục câu chuyện, tay giáo sư người Mỹ mời hắn lên ngồi chung và giới thiệu hắn với cử tọa bằng những lời rất trân trọng. Lần đó hắn bị công an văn hóa mời lên mấy lần để nói rõ mối quan hệ giữa hắn và tay người Mỹ. Hắn chỉ bảo là hắn không đồng tình một số ý của diển giả và người giáo sư nể hắn. Thế thôi. Bắt nó làm tường trình, nó bảo chẳng có đéo gì mà phải tường với trình, không tin thì cứ đi hỏi tay giáo sư người Mỹ chứ tại sao lại hỏi hắn. Cuối cùng huề, chẳng có chuyện gì mà ầm ĩ.

Hắn chưa bao giờ kể cho tôi nghe về mối quan hệ của hắn với phụ nữ. Thế mà có một lần, có một người đàn bà đẹp đến tìm hắn ở quán cà phê. Tôi ngỡ ngàng khi gặp người phụ nữ này, bởi vì cô ấy quá đẹp. Một sắc đẹp đài các, duyên dáng và rất trí thức. Một khuôn mặt mà thi ca và hội họa suốt đời ca tụng. Bữa đó không có mặt hắn ở quán và tôi tiếp chuyện với người đàn bà đẹp đó. Nàng tên là Bạch Huệ – hoa huệ trắng- cái tên nghe có vẻ hơi cải lương, nhưng cô gái đó nói chuyện rất thông minh và rất có trình độ. Nàng đi tìm hắn đã lâu rồi, và rồi không biết ai đó đã hướng dẫn nàng đến đây. Cô gái kể sơ cho tôi nghe về mối quan hệ giữa hắn và nàng. Yêu nhau từ ngày còn ở bên Nga, nàng là con gái rượu của đại sứ Vệt Nam ở đó. Một mối tình đẹp và môn đăng hộ đối. Hai người về Việt Nam và dự định khi ổn định cuộc sống sẽ làm lễ cưới. Nhưng rồi hắn chửi lãnh đạo, mất việc, bị bố nàng nói nặng nhẹ đụng chạm tự ái sao đó, hắn chửi ông bố vợ tương lai một trận ra trò và bảo các ngài chỉ là một lũ ngu rồi bỏ đi không dấu vết. Nàng đau khổ đi tìm. Vô vọng. Mò kim đáy bể. Cuối cùng nghe theo lời bố lấy chồng. Chồng nàng bây giờ là thứ trưởng một bộ rất quan trọng. Tôi bảo thế thì bây giờ cô còn tìm hắn làm gì, khi đã trở thành hai tầng lớp khác nhau, vị trí xã hội cũng đã không còn như xưa nữa. Cô ấy bảo là tìm để xem hắn sống ra sao, tìm lại hình ảnh mối tình xưa đã không còn nữa và quan trọng nhất là cô ấy vẫn còn yêu hắn.

Khi tôi kể lại cho hắn nghe cuộc gặp gỡ, hắn không nói gì chỉ lẩm bẩm chửi thề, chửi thề là thói quen của hắn, nên tôi không biết hắn đang chửi cái gì. Chửi số phận hay chửi mối tình của hắn. Sau đó hắn lầm lì mấy ngày rồi vắng mặt gần mười mấy hôm, cũng chẳng biết hắn đi đâu…..

Hắn xuất hiện trở lại chốn giang hồ với một cọc tiền khá lớn, hắn bảo hắn vừa lãnh tiền công viết luận án tiến sĩ cho một đồng chí lãnh đạo thành phố. Hắn nói đây là đồng tiền tanh hôi, đồng tiền đã làm lụn bại đất nước, nhưng nếu hắn không nhận làm thì thằng khác cũng làm, xã hội bây giờ thiếu gì thằng trí thức sẵn sàng làm thuê. Hắn gom mấy đứa trẻ bán báo, đánh giày, bán vé số lại. Thuê một chiếc xe mười lăm chỗ ngồi, chở hết mấy đứa trẻ vào thành phố, mua sắm áo quần, đồ chơi, sách vở. Lại còn cho mỗi đứa mấy trăm ngàn. Cả đám trẻ sung sướng. Còn hắn thì hả hê. Chưa bao giờ thấy khuôn mặt của hắn sướng đến như vậy. Mấy bà bán dạo quanh quán cà phê bảo hắn điên, hắn cười sảng khoái, gật gù: điên, điên, đúng là điên.

Tối hôm đó hắn đi vào bar Mưa Rừng, vừa bước vào cửa, mấy gã bảo vệ nhìn bộ dạng của hắn, định ngăn không cho vào. Hắn rút ra mấy tờ bạc giúi vào tay chúng. Hai gã bảo vệ nghiêng mình, mở cửa. Hắn vào bàn, ngoắc một em phục vụ ăn mặc nóng bỏng lại, kêu cho ly sữa tươi. Em cave nhìn hắn định cười khi dễ thì hắn đã rút hai tờ năm trăm nhét vào tay cô gái và bảo, em mua giúp anh ly sữa tươi. Dĩ nhiên là cô gái thực hiện ngay. Ai dại gì từ chối bán ly sữa tươi giá một triệu bạc bao giờ. Hắn uống một hơi hết ly sữa. Lại ngoắc em gái lần nữa và rút thêm một xấp tiền, bảo: vú em nhỏ quá, anh cho em chục triệu đi bơm vú to lên mà làm cho đời thêm tươi. Cô gái há hốc mồm không kịp nói gì thì hắn đã lẳng lặng rời ghế, đi về. Chuyện này được kể lại với nhiều tình tiết ly kỳ hơn, kéo dài mấy tháng trong giới cave, sau này trở thành giai thoại, báo chí cũng có đăng. Mọi người kháo nhau hắn là tỷ phú đóng vai kẻ nghèo vì chán cảnh giàu sang nhung lụa. Bữa đó hắn đi bộ về, vừa đi vừa khóc, chẳng ai hiểu tại sao?

Hắn lại mất hút. Cả tháng rồi tôi không gặp hắn. Cho đến hôm qua, lúc trưa, tôi nhận được điện thoại của công an hỏi tôi có phải là người thân của hắn không? Tôi ừ. Đồng chí công an bảo phát hiện hắn đã chết đêm hôm qua, trong tay có mảnh giấy ghi tên và số điện thoại của tôi. Tôi chạy ngay đến đồn, họ chở tôi đến một căn nhà nhiều phòng ở một chung cư tại quận tư. Hắn nằm đó, khuôn mặt thanh thản và bình yên, trên môi phảng phất nụ cười. Chung quanh giường và tràn ngập căn phòng là những cành huệ trắng. Màu trắng của huệ, màu trắng của chiếc drap giường và bộ đồ trắng lần đầu tiên tôi thấy hắn mặc làm cho căn phòng tinh khiết lạ lùng và cũng tang tóc vô cùng. Trên đầu giường có một bức tranh sơn dầu nhỏ vẽ chân dung một cô gái cũng mặt chiếc váy trắng. Khuôn mặt trong hình rất quen. Đó là chân dung của Bạch Huệ. Thì ra hắn tự tử bằng hoa huệ. Hắn đã chất đầy căn phòng hoa huệ trắng, đóng kín cửa và hắn từ từ chết trong hương thơm ngào ngạt của loài hoa huệ trắng. Trong tờ giấy hắm nắm trong tay lúc ra đi, ngoài tên và số điện thoại của tôi, hắn còn ghi thêm hai dòng nữa. Dòng đầu hắn cho biết là hắn tự kết liễu đời mình, không liên lụy đến ai. Dòng sau hắn ghi là hắn không còn cha mẹ, anh em, bà con ruột thịt nên nhờ tôi hỏa tang thân xác hắn và rải tro xuống sông để cho hắn được trôi ra biển lớn. Tôi đưa tay chào như chiến sĩ, như một lời chia tay.

Ba hôm sau, tôi nhận được mail của hắn. Nhìn thấy tên hắn là tên người gởi, tôi lạnh dọc sống lưng. Sao hắn chết ba hôm rồi, than xác hắn đã thành tro bụi rải xuống sông rồi. Sao lại còn có thư của hắn gởi.

Hắn viết:

“ Gởi anh.

Đã đến lúc tôi cảm thấy mình thừa thãi trong cuộc đời này. Tôi không còn lí do để tồn tại nữa. Phải biết đúng lúc để rút lui là người khôn ngoan. Tôi đã làm tròn phận sự và tôi phải ra đi. Biết đâu ở thế giới khác sẽ vui hơn trần gian điên dại này? Xem như không có V.Huy ở cuộc đời này, quá khứ cũng như tương lai.

Anh ở lại hãy sống vui.
V.Huy

Tái bút: Tôi nhờ anh đến địa chỉ…lấy một số vật dụng của tôi và đốt tất cả giúp tôi. Đốt hết và đừng giữ lại gì. Cám ơn anh.

Anh đừng sợ hãi khi nhận được thư này. Tôi gởi thư theo chế độ hẹn. Tôi hẹn ba ngày sau khi tôi ra đi, máy mới gởi thư đi”

Tôi đến địa chỉ hắn đã ghi, người ta giao cho tôi một thùng to, vất vả lắm tôi mới chở được về nhà. Những gì trong đó làm tôi kinh ngạc đến sững sờ.

18 cuốn nhật ký hắn ghi từ lúc bảy tuổi cho đến trước ngày hắn chết một tuần lễ với nhiều suy nghĩ gây sửng sốt.

72 bản dịch những cuốn tiểu thuyết của nhiều nhà văn nổi tiếng trên thế giới.

4 bản dịch sang tiếng Đức cuốn Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Thơ các thiền sư đời Lý và cuốn Đoạn trường vô thanh.

3 tập phê bình và nhận định những sai lầm của chủ nghĩa Mác viết bằng tiếng Anh.

2 cuốn nói về sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thế kỉ 21 viết bằng tiếng Pháp.

43 cuốn phân tích và phê bình về các tác giả Việt Nam từ thơ ca đến tiểu thuyết.

12 cuốn viết về các danh nhân văn hóa Trung Quốc và sự ảnh hưởng của họ.

5 cuốn dịch thơ Đường sang tiếng Việt.

3 cuốn chép tay kinh Phật bằng tiếng Pali.

1 cuốn dịch nhạc Trịnh Công Sơn sang tiếng Tây Ban Nha.

8 tập thơ hắn viết từ hồi 15 tuổi cho đến năm ngoái, tức là cả năm nay hắn không còn làm thơ.

1 cuốn luận án tiến sĩ của hắn với tiêu đề: “Tìm hiểu chính sách ngoai giao của nhà nước Việt Nam từ đời Lý đến 1945”..với nhiều lời phê khen ngợi.

Và nhiều bằng cấp giấy khen của nhiều trường học, tổ chức trong và ngoài nước. Nhiều bài báo của hắn viết trên nhiều tạp chí chuyên ngành của nhiều tổ chức khoa học tiếng tăm trên thế giới.

Một gia tài đồ sộ chứng tỏ sự uyên thâm cùng sức làm việc khủng khiếp của hắn.

Tôi mất gần cả năm nay mà vẫn chưa đọc hết những gì hắn đã viết, và tôi sẽ tiếp tục đọc để hiểu hắn hơn, để càng thêm cảm phục hắn. Một thiên tài đã sinh nhầm nơi chốn. Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ.

Tôi không đốt như ý nguyện của hắn. Tôi đóng một tủ sách khá đẹp, đem tất cả tác phẩm hắn đã viết sắp xếp thứ tự. Ngoài mặt tủ, tôi đi thuê khắc dòng chữ: “CÓ MỘT NGƯỜI TÊN V.HUY “

Saigon 12g45 AM ngày 11.8.2010

DODUYNGOC
@ T
ừ Email bạn bè gửi

————————————————————————————————————————————————————————————————–

Thơ vui lục bát – “Mat-xa”

Nhân ngồi nói chuyện gần xa
Vợ tôi mới hỏi mát xa là gì?

Mong anh kể rất chi li
Để rồi có dịp em đi mát cùng


Khen rằng em rất anh hùng
Nếu em muốn biết anh ko giấu gì

Mát là tắm, xoa là kỳ
Chữa nhiều bệnh tật Tây y phải hàng
Không động chi tới tim gan
Phổi thận cũng mặc chỉ toàn ngoài da

Lúc thì bóp lúc thì xoa
Lúc đấm lúc đạp như là thụi nhau
Lúc vặn cổ lúc bẻ đầu
Lúc thì kéo cẳng làm đau cả người

Lúc thì dí mạnh như dùi
Lúc thì xoa nhẹ chỉ hơi buồn buồn
Lúc thì bóp ở hai sườn
Toàn thân co rúm thảm thương vô cùng

Lúc rờ bụng lúc đấm lưng
Tim thì đập mạnh nói không nên lời
Rờ lên trán đẫm mồ hôi

Mắt nhắm mắt mở kêu trời nhưng xa

Vẫn còn một chỗ không xoa

Động vào tiền phải gấp ba bốn lần

Em rằng mát vậy cực thân
Mà sao anh thích mát gần mát xa

Anh đi đi em ở nhà
Thích mát thì tắm thích xoa em kỳ
Chẳng cần Đông với Tây y
Tiền cũng chẳng mất bệnh gì cũng lui

Mát nhiều lạnh lắm anh ơi
Nếu không mặc ấm hắt hơi có ngày

Tôi rằng: em nói đến hay
Mát xa là việc Đông Tây vẫn làm

Mát là mát ruột mát gan
Xoa để máu huyết tuần hoàn lưu thông
Mát xoa phục vụ đàn ông
Em mà đi mát thì chồng sẽ ghen

Vậy là anh nói dối em
Lâu nay em dại nên em bị lừa
Từ nay anh phải nhớ chừa
Mát gần thì được mát xa thì đừng
Nếu không đừng trách vợ hiền
Nổi cơn thịnh nộ chẳng yên cửa nhà

Lucbat.com

————————————————————————————————————————————————————————–

Phiêu lưu 18 tháng trong hậu cung của hoàng thân Brunei

Những lần mua sắm thả phanh với hoá đơn đến sáu số không, là một trong số 40 người tình của hoàng thân Brunei…Jillian Lauren, một gái gọi trẻ kể lại cuộc phiêu lưu huy hoàng trong một hậu cung thời hiện đại.

Jillian Lauren rời trường đại học New York ngay trong năm đầu tiên để trở thành một “khách mời dự tiệc” của “một doanh nhân giàu có” tại Singapore rồi rốt cuộc sống 18 tháng trong hậu cung của một hoàng thân Brunei.

Ở tuổi 18, Lauren sống trong một vương quốc Hồi giáo ở Đông Nam Á, nhận hàng trăm nghìn đôla tiền quà tặng còn hiện thời cô đã 36 tuổi, sống ở Los Angeles với người chồng tên là Scott Shriner và con trai nhỏ. Lauren đã viết một cuốn sách về những tháng ngày sống trong hậu cung của một hoàng thân Brunei.

Không ngần ngại nói về những gì đã trải qua, tại sao lại lạc vào một hậu cung, sống ở đây như thế nào và cách từ giã ra sao, Jillian Lauren đề cập đến từng chi tiết mà bất kỳ một người tò mò nhất nào cũng được thoả mãn.

Làm thế nào một cô gái Do thái xinh đẹp xuất thân từ vùng ngoại ô lại đáp xuống một hậu cung?

Mối quan hệ giữa tôi và bố mẹ không được tốt. Họ quá quan tâm tới vẻ bề ngoài và tôi biết, tôi muốn một thứ gì đó khác. Tôi học ngành diễn viên và tự nuôi mình bằng nghề vũ nữ thoát y và có lúc là gái gọi. Tôi trở thành gái gọi kể từ khi không thể trang trải các hoá đơn.

Trong một buổi đi thử giọng, một đạo diễn tuyển người nói với tôi, một doanh nhân giàu có ở Singapore sẵn sàng trả 20.000 USD/ hai tuần cho những cô gái Mỹ trẻ trung, quyến rũ nếu chịu bay tới nhà ông ta và giúp tổ chức các bữa tiệc náo nhiệt. Rồi sau đó, tôi biết, công việc thực sự là mua vui cho Hoàng thân Jefri Bolkiah, em út của Quốc vương Brunei. Sự tò mò và thích phiêu lưu đã khiến tôi quyết định dấn bước.

Vào thời điểm đó, hoàng thân Jefri, cựu Bộ trưởng tài chính của một quốc gia giàu dầu lửa, người đàn ông giàu nhất thế giới, SFAppeal.com cho hay. Vị hoàng thân này còn là người đi đầu về phong cách sống xa xỉ cực kỳ với những chiếc máy bay, du thuyền đắt tiền và cái giữ giấy vệ sinh mạ vàng.

Cô không sợ một cái gì đó khủng khiếp sẽ xảy ra sao?

Tôi không sợ. Một phần của những bữa tiệc là sự trẻ trung và hoang dại.

Hoàng thân Jefri

Cô đã ở đó 18 tháng. Mọi việc đã diễn ra như thế nào, có hợp pháp không?

Không có một hợp đồng nào. Tôi là khách tại nhà của hoàng thân và ông ấy tặng tôi rất nhiều quà – nữ trang, những chiếc túi lèn đầy tiền. Tuy nhiên, tôi không phải là một người làm.

Việc ăn ở được sắp xếp như thế nào?

40 người chúng tôi sống trong 8 nhà khách vây quanh dinh thự chính của hoàng thân. Đồ trang trí thì trên cả tưởng tượng, thảm dệt bằng chỉ vàng, những bông hoa bằng tơ lụa và gương ở khắp nơi. Bạn cùng phòng tôi nói, trông nó giống như ngôi nhà của một người bán thảm Ba Tư.

Tôi quan hệ thân thiết với một số người song với những người khác thì có một cuộc cạnh tranh và sự tàn bạo mà tôi chưa từng trải qua.

Cô có thường xuyên gặp hoàng thân Jefri không?

Hoàng thân thường tổ chức các bữa tiệc trong phòng khiêu vũ của dinh thự. Trong bữa tiệc, ông sẽ ngồi trong góc với một hoặc hai phụ nữ ưa thích. Hoàng thân có lẽ ngủ với 2 tới 4 cô một ngày và vào thời điểm đó, tôi có lẽ luôn ngự trị trong tâm trí ông nên tôi gặp ông mỗi ngày. Những lúc khác, có thể là một lần một tuần.

Khi tôi đi du lịch với Hoàng thân, thì nó có nghĩa là cùng ở với nhau cả đêm. Tuy nhiên, các lần quan hệ tình dục đều rất chớp nhoáng và mãnh liệt. Bạn không thể biết khi nào nó sẽ diễn ra.

Tôi cũng mau chóng phát hiện được thứ hạng giữa những người phụ nữ. Các bàn được xếp theo quốc gia, những cô gái Philippines ngồi đầu bởi vì cô gái được hoàng thân yêu là một cựu ngôi sao truyền hình tên là Fiona. Có 6 cô người Mỹ, gồm cả một cô trông rất giống Marilyn Monroe.

Dường như tôi được hoàng thân chú ý khi hát bài hát Malaysia mà ông ưa thích. Ngay sau đó, tôi được xếp ngồi bên trái ông, vị trí quan trọng thứ hai trong nhà, sau ghế số một của Fiona.

Cô từng viết trong sách rằng có tình cảm với hoàng thân cho dù được trả tiền để có mặt trong dinh thự của ông ấy. Và rằng, Jefri đã cưới 3 phụ nữ, và còn hẹn hò với 40 phụ nữ khác. Liệu có thể như thế không.

Mọi việc khá phức tạp. Tôi rất ngây thơ, ông ấy thử tôi, tỏ ra si mê rồi lại phớt lờ tôi. Một ngày, tôi thấy mình được xếp ngồi gần ông trong phòng lớn, nơi chúng tôi dự tiệc hàng đêm. Và tôi nhận thấy rằng tôi đã leo tới vị trí đầu của bảng xếp hạng mà không biết rằng mình đã làm những gì.

Hãy kể cho chúng tôi nghe về các chuyến mua sắm

Đã có một cuộc mua sắm điên cuồng ở Singapore. Tôi chạy khắp một trung tâm mua sắm lớn, quẳng những chiếc váy hiệu Dior và Chanel trị giá 10.000 USD lên quầy tính tiền mà không cần thử. Trong một ngày, tôi mua đủ quần áo, túi xách, giầy dép để chất đầy 15 chiếc vali. Một phần trong tôi cảm thấy phẫn nộ nhưng cùng lúc lại thấy hồi hộp. Tôi bị say.

Lauren

Tại sao cô quyết định ra đi?

Tôi phát điên với trò chơi trí óc của hoàng thân, vì vậy, tôi nói với người phụ nữ phụ trách rằng cha tôi phải phẫu thuật và tôi phải về. Cô ấy đã sắp xếp mọi việc. Tôi rời khỏi dinh thự với một chiếc phong bì dày tiền và những loại nữ trang mà bạn phải thuê riêng vệ sĩ cho nó.

Cô có thấy xấu hổ về quá khứ của mình không?

Xã hội nói với tôi rằng tôi nên xấu hổ nhưng tôi lại không thấy thế. Những gì diễn ra gây hại cho tôi nhưng phải nhiều phụ nữ khác, đó là một cách để sống sót. Tôi cho rằng chúng ta nên hợp pháp hoá mại dâm, lấy sự xấu hổ khỏi nó. Và tôi muốn khơi gợi cho những phụ nữ khác – những người quan hệ tình dục khi còn ít tuổi, hãy trân trọng những câu chuyện của chính mình.

Cô không thấy hối tiếc một chút nào?

Không hối tiếc, tôi đã có một lựa chọn táo bạo. Tôi đã có một cuộc phiêu lưu tuyệt vời và tôi đã học hỏi được rất nhiều. “Tôi biết, tôi là một gái gọi nhưng phần nào đó tôi thấy mình giống công chúa Cinderella.

Hơn một thập niên sau, Lauren đã làm lại cuộc đời. Cô gặp người chồng hiện thời Weezer bassist Scott Shriner và có một con trai. Gia đình Lauren hiện sống ở Los Angeles.

Tuy nhiên, mọi việc với hoàng thân Jefri lại không ổn. Ông bị cáo buộc biển thủ 15 tỷ USD trong thời gian làm bộ trưởng tài chính và không nói chuyện với anh trai kể từ năm 2004. Dù các báo cho biết, hoàng thân Jefri đã trở lại Brunei nhưng tiếng ăn chơi nổi như cồn khắp thế giới của ông đã làm xấu hình ảnh của ông.

Hoài Linh (Tổng hợp )

@Vietnamnet

————————————————————————————————————————————————————————————————-

//

CẬP NHẬT TIN 26-8-2010

Tàu ngầm TQ cắm cờ ở đáy Biển Đông

Ngay sau khi Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, ông Nguyễn Chí Vịnh, kết thúc chuyến thăm Bắc Kinh, Trung Quốc công bố tàu ngầm của họ cắm thành công quốc kỳ ở đáy Biển Đông.

Hôm thứ Năm 26/8, chính quyền Trung Quốc tuyên bố một tàu ngầm nhỏ, có người điều khiển của họ đã “cắm lá quốc kỳ dưới đáy biển Nam Hải”, tức Biển Đông theo cách gọi của Việt Nam.

Hãng Reuters cùng ngày trích nguồn Trung Quốc nói đây là vùng biển “Trung Quốc va chạm với Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á vì lý do tranh chấp lãnh thổ”.

Mới công bố

Chiếc tàu ngầm Trung Quốc được nói đã hoạt động từ tháng 5 đến tháng 7 tại vùng biển này, và thực hiện cả thẩy 17 lần lặn xuống độ sâu có lúc tới 3759 mét.

Tin tức tại Trung Quốc trích lời của Bộ Khoa học, Công nghệ và Cơ quan Hải dương học nước này về chi tiết các chuyến thám hiểm đáy biển của con tàu nọ.

Nhưng theo các hãng tin nước ngoài, phía Trung Quốc không nói rõ vị trí cắm cờ của tàu ở đâu và nó có vào vùng biển tranh chấp hay không.

Bản tin của Reuters cũng chú ý đến việc “vì sao lời công bố lại được giữ kín cho đến nay”.

Các bản tin đều nói đây là lần đầu tiên tàu ngầm của Trung Quốc thành công trong việc xuống độ sâu đó.

Báo chí bên ngoài cũng đặt câu chuyện “cắm cờ đáy biển” của Trung Quốc vào bối cảnh Ngoại trưởng Hillary Clinton gần đây phát biểu cứng rắn tại Hà Nội, cảnh báo việc Trung Quốc có chính sách riêng với vùng biển Đông Nam Á.

Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh vừa kết thúc chuyến đi bốn ngày (22/08-25/08) tới Bắc Kinh.

Báo chí Việt Nam cho hay chuyến đi này nhằm chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), dự kiến tổ chức tại Hà Nội vào ngày 12/10 tới, nhưng cũng có quan sát viên nói là nhằm thuyết phục Trung Quốc tham gia hội nghị.

Hầu hết Bộ trưởng Quốc phòng của tám quốc gia được mời cùng Asean nhóm họp đã nhận lời tới Hà Nội tham dự hội nghị ADMM+ lần thứ nhất, được cho là sáng kiến của Việt Nam.

Hãng tin Tân Hoa Xã của Trung Quốc chưa xác nhận liệu Bộ trưởng Lương Quang Liệt có tới Hà Nội hay không.

Tuy nhiên bản tin của Tân Hoa Xã ngày 25/8 nói rằng hai bên “đang chuẩn bị cho cuộc đối thoại chiến lược về quân sự lần thứ tư, dự kiến tổ chức vào cuối năm nay”. ( bbc )

————————————————————————————————————————————————————————–

Lãnh đạo Bắc Hàn tới Trung Quốc

Truyền thông Nam Hàn đưa tin lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong-il đã lên đường đi thăm Trung Quốc.

Ông Kim Jong-il chỉ đi lại bằng tàu lửa

Tháp tùng ông là con trai Kim Jong-un, người được cho sẽ kế tục sự nghiệp của ông.

Chuyến thăm diễn ra trong khi đang có đồn đoán về người kế nghiệp ông Kim Jong-il, vốn được tin là bị đột quỵ hai năm trước.

Một quan chức Nam Hàn nói với hãng Yonhap: “Đang có dấu hiệu rằng Chủ tịch Kim đã đi Trung Quốc sáng sớm thứ Năm.

Hiện chúng tôi đang tìm cách xác minh nơi đến và mục đích của chuyến đi”.

Nếu quả là có thực thì đây là chuyến thăm thứ hai của ông Kim tới Trung Quốc trong năm nay. Hồi tháng Năm, ông đã ở đây năm ngày liền.

Nói chung ông Kim Jong-il là người ít đi nước ngoài. Thông thường Bắc Kinh và Bình Nhưỡng ch̉i loan báo về các chuyến đi sau khi đã kết thúc.

Theo BBC Tiếng Trung ở London, trước khi đến Bắc Kinh, cha con ông Kim đến thăm ngôi trường tại Cát Lâm, nơi ông Kim Nhật Thành, cố lãnh tụ Bắc Triều Tiên từng học khi sống ở Trung Quốc.

Căng thẳng

Các tin đồn nói người con trai thứ ba, Kim Jong-un đang được chuẩn bị để kế vị cha

Phóng viên BBC tại thủ đô Nam Hàn nói thương mại có thể là mục tiêu của chuyến đi. Bắc Triều Tiên phụ thuộc nhiều vào viện trợ và hàng hóa của Trung Quốc để cứu đỡ nền kinh tế ọp ẹp ở trong nước.

Tuy nhiên việc tìm người kế nhiệm cho ông Kim cũng có thể là một chủ đề khác trong nghị trình.

Được biết ông Kim Jong-il bị tai biến hai năm trước đây và đang tìm cách tiến cử con trai thứ ba của ông, Kim Jong-un, lên thay ông.

Cũng đang có tin rằng sắp có một hội nghị quan trọng của đảng cầm quyền tại Bắc Hàn để bàn về chủ đề này.

Một kênh truyền hình Nam Hàn dẫn lời quan chức nói ông Kim Jong-un đang tháp tùng cha mình đi Trung Quốc.

Giới phân tích thì cho rằng chủ đề chương trình hạt nhân của Bắc Hàn có thể cũng được thảo luận.

Trung Quốc đang muốn nối lại cuộc đàm phán sáu bên về hạt nhân Bắc Triều Tiên, nhất là sau vụ tàu chiến Nam Hàn bị đánh chìm gây căng thẳng giữa hai miền Triều Tiên.

Hiện quan chức ngoại giao Trung Quốc, ông Võ Đại Vĩ đang ở thăm Nam Hàn trước khi sang Nhật Bản để bàn về vấn đề đàm phán.

Trước hai chuyến đi, ông Võ đã sang thăm Bắc Hàn.

Seoul cáo buộc Bình Nhưỡng đứng đằng sau vụ đánh đắm tàu Cheonan.

Trong khi đó, cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã có mặt tại Bình Nhưỡng để can thiệp giải cứu một công dân Mỹ bị Bắc Hàn bắt từ hồi tháng 1/2010.

Ông Aijalon Mahli Gomes bị án tám năm lao động khổ sai vì đột nhập Bắc Hàn trái phép.

Có tin rằng ông Gomes sẽ được cho rời Bắc Hàn cùng ông Carter trong ngày thứ Năm này. (bbc )

————————————————————————————————————————————————————————-

Xác lập vị trí mới của kinh tế Việt Nam trong ASEAN

Sau các phiên họp của các quan chức cao cấp về kinh tế kéo dài từ ngày 22.8 tại Đà Nẵng, sáng ngày 25.8, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đến dự phiên khai mạc hội nghị Bộ trưởng Kinh tế các nước ASEAN (AEM) lần thứ 42 với các nội dung cấp bộ trưởng kinh tế, nhằm thúc đẩy việc hình thành khối cộng đồng kinh tế chung ASEAN (ACE).

Quang cảnh phiên họp toàn thể
Ảnh: TTXVN

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “Việt Nam khẳng định sự nâng cấp trong quan hệ mọi mặt với ASEAN, trong đó gia nhập tích cực vào Cộng đồng kinh tế chung ACE là một yêu cầu nhận thức mới đối với mọi doanh nghiệp và từng người dân Việt Nam. Đây chính là cơ hội để xác lập vị trí mới của nền kinh tế nước ta trong cấu trúc kinh tế ASEAN và kinh tế toàn cầu”.

Xuất phát ban đầu như một khu vực thương mại tự do (AFTA) năm 2007, tại Singapore, hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13 đã ký hai văn kiện ấn định lộ trình chiến lược và kế hoạch tổng thể để thực hiện ACE từ năm 2009 đến 2015, đó là lúc mà cộng đồng kinh tế ASEAN thành một thị trường thống nhất, một cơ sở sản xuất chung; trong đó hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động có kỹ năng sẽ được di chuyển một cách thuận lợi và tự do.

Theo báo của ban thứ ký ACE, với số dân 592 triệu người , GDP 1.499 tỉ USD; việc hoàn thành lộ trình giảm thuế AFTA đã được 99,65% dòng thuế có thuế suất 0%. Thuế suất bình quân trong thương mại nội khối đã giảm từ 2,58% năm 2007 xuống còn 1,95% vào năm 2008. Năm 2008 thương mại nội khối đạt 458 tỉ USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2.000 khi bắt đầu thực thi hiệp định AFTA. Nhiều ngành kinh tế của ASEAN đã phát huy tốt ưu thế như nông sản, thủy sản, dệt may, điện tử, du lịch, chế tạo.

Với Việt Nam, nếu năm 2003, thương mại hai chiều mới đạt khoảng 8,8 tỉ USD thì năm 2008 con số này là 30 tỉ USD. Với tốc độ tăng trưởng thương mại gần 30% năm, ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, vượt lên trên Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản. Hơn thế nữa, ASEAN còn là cửa dẫn luồng đầu tư trực tiếp những ngoài lớn nhất vào Việt Nam với số vốn trên 60 tỉ USD, chiếm 65% khoản đầu tư trực tiếp tại Việt Nam. ( SGTT )

————————————————————————————————————————————————————————-

Tu điện một ray: thêm giải pháp cho giao thông TP.HCM

Tại hội thảo “Tàu điện một ray trong quy hoạch giao thông đô thị” diễn ra ngày 26.8 ở TP.HCM, tổng giám đốc công ty cổ phần Vinaconex, ông Nguyễn Văn Tuân cho rằng, tàu điện một ray (monorail) có thể là giải pháp cho đô thị đông xe như TP.HCM.

Một tuyến monorail đang hoạt động tại
Trùng Khánh,Trung Quốc. Ảnh: Thu Giang

Hiện nay, TP.HCM chiếm 8% dân số cả nước, nhưng có đến 15% phương tiện giao thông của cả nước, nên mật độ kẹt xe cục bộ diễn ra ngày càng dày đặc. Tiến sĩ Phạm Sĩ Liêm, phó chủ tịch tổng hội Xây dựng Việt Nam, viện trưởng viện Nghiên cứu đô thị và phát triển hạ tầng cho biết, monorail có nhiều cơ hội phát triển ở khu vực phía Nam; nó có thể thành tuyến du lịch tham quan từ Vũng Tàu đến Long Hải, hay phát triển ở Đà Lạt, Phú Quốc và Côn Đảo. Tiến sĩ Ngô Viết Nam Sơn, nhà nghiên cứu quy hoạch cho biết, việc chọn công nghệ giao thông công cộng phải căn cứ theo sự lựa chọn của người dân, không nên áp đặt. Các nhà khoa học tham gia hội nghị cũng cảnh báo: cơ quan quy hoạch giao thông và quy hoạch kiến trúc nếu không phối hợp chặt chẽ, mạng lưới giao thông cùng cảnh quan đô thị sẽ gặp rối.

Được biết, monorail dùng bánh lốp chạy trên dầm bê tông không gây ồn, có thể luồn lách qua các khu dân cư, cao ốc bằng động cơ điện một chiều hybrid. Tốc độ trung bình của monorail từ 60-90km/h, sức chứa tối đa 200 người/toa và có thể chở tối đa 60.000 lượt người/hướng/giờ. Giá xây dựng mỗi tuyến monorail tại Việt Nam thấp nhất là 8 triệu USD/km. (SGTT )

————————————————————————————————————————————————————————-

Xây đường bộ nối 2 tuyến đường cao tốc

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã đồng ý tổ chức thực hiện Dự án đường bộ nối đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng với đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình trên cơ sở đề nghị của Bộ Giao thông vận tải và UBND 2 tỉnh Hưng Yên, Hà Nam.

Dự kiến đường nối 2 tuyến đường cao tốc sẽ gồm 6 làn đường. Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet
Dự kiến đường nối 2 tuyến đường cao tốc sẽ gồm 6 làn đường. Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet

Về nguồn vốn thực hiện Dự án, trước mắt Bộ Giao thông vận tải thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 709/VPCP-KTN. Theo đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cân đối phân bổ trong kế hoạch vốn ngân sách nhà nước hàng năm cho Bộ Giao thông vận tải để thực hiện dự án, đồng thời nghiên cứu khả năng huy động thêm các nguồn vốn khác như vốn ODA,… để thực hiện dự án theo quy định.

Việc xét bổ sung Dự án vào danh mục sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011 – 2015 sẽ được xem xét khi có chủ trương.

Theo báo cáo của tư vấn thiết kế, Hà Nam và Hưng Yên đều nằm trong vùng lõi kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và là động lực phát triển khu vực đồng bằng sông Hồng nên việc đầu tư xây dựng tuyến đường nối 2 tuyến cao tốc lớn của khu vực phía Bắc là yêu cầu thiết yếu.

Được biết, các cơ quan chức năng liên quan đã phối hợp xem xét về hướng tuyến và quy mô xây dựng như đề xuất điểm đầu tuyến là nút giao QL39 với đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng thuộc tỉnh Hưng Yên; điểm cuối là nút giao Liêm Tuyền trên đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình thuộc tỉnh Hà Nam. Dự kiến, đường nối 2 tuyến đường cao tốc được thiết kế có quy mô hoàn chỉnh gồm 6 làn xe.

Lê Thảo ( Laodong )

————————————————————————————————————————————————————————

Nhộn nhịp chợ nhãn Hưng Yên

Cuối tháng 8 là thời điểm Hưng Yên bước vào vụ thu hoạch nhãn. Dọc triền đê Quảng Châu, TP Hưng Yên, nhãn đã chín vàng khắp nơi. Trên triền đê làng, người người  tấp nập quang gánh, xe đạp, xe máy… chở nhãn đi bán.

Từ 12 giờ trưa,  chợ Dầu (Quảng Châu), một chợ đầu mối ở thành phố đã tập trung đông đúc kẻ bán người mua, với nhiều các loại nhãn như nhãn hương chi, nhãn cây, nhãn nước, nhãn lồng … “Năm nay, nhãn được mùa và “được giá” hơn năm ngoái, giá dao động từ 20.000 – 50.000 đồng/kg tùy theo mẫu mã” – anh Tùng, 25 tuổi, vừa cân nhãn vừa phấn khởi cho biết.

Theo người dân địa phương, nhãn lồng năm nay phải cạnh tranh với những loại nhãn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Điều này khiến việc bán nhãn của nhiều gia đình gặp khó khăn. Vì vậy, phần lớn nhãn được thu hoạch hiện nay đều đem chế biến thành long nhãn dự trữ, số còn lại để chờ dịp Trung thu sắp tới.

Nhãn năm nay được mùa. Bác Bùi Văn Nhuận, 55 tuôi (thôn Lễ Châu, Hồng Nam, tp Hưng Yên) cho biết, gia đình đã bán được 3 tấn nhãn và thu về gần 100 triệu đồng.
Nhãn năm nay được mùa. Bác Bùi Văn Nhuận, 55 tuôi

(thôn Lễ Châu, Hồng Nam, tp Hưng Yên) cho biết,

gia đình đã bán được 3 tấn nhãn và thu về gần 100 triệu đồng.

Phiên chợ Dầu đông đúc kẻ mua người bán nhãn
Phiên chợ Dầu đông đúc kẻ mua người bán nhãn

Có đủ mọi phương tiện được dùng để người dân chở nhãn ra chợ
Có đủ mọi phương tiện được dùng để người dân chở nhãn ra chợ

Nhãn chế biến thành long nhãn sẽ được đóng thành tải lớn.
Nhãn chế biến thành long nhãn sẽ được đóng thành tải lớn.
Trước khi chọn mua, khách sẽ được ăn thử
Trước khi chọn mua, khách sẽ được ăn thử

@ Laodong

———————————————————————————————————————————————————————————————————————————–

Tiền, sex và tình yêu ở TP. HCM

Kimberly Hoang

Nghiên cứu sinh, Đại học California, Berkeley

Mại dâm và buôn người thường bị lên án (ảnh minh họa)

Nạn buôn người và sự liên hệ giữa HIV và mại dâm tại Việt Nam đã được nói đến nhiều. Mới tháng Sáu năm nay, Bộ Ngoại giao Mỹ ra báo cáo, đưa Việt Nam vào danh sách loại 2 (cần được theo dõi). Trên thế giới, cả người theo quan điểm bảo thủ lẫn tự do đều cố gắng quyên tiền, xây dựng các tổ chức phi chính phủ (NGO) để cứu những phụ nữ bị buôn bán qua biên giới hoặc bị bắt bán dâm.

Tuy vậy, sự tập trung quá mức vào vấn nạn buôn người ở Việt Nam khiến chúng ta có thể bỏ qua cuộc sống của những cô gái không bị ép làm nghề bán dâm. Bài viết của tôi muốn hé lộ cuộc sống của những phụ nữ tự nguyện làm nghề bán dâm ở Việt Nam, và quan sát những người đàn ông – địa phương và nước ngoài – hưởng thụ sex.

Khách hàng thay đổi

Trong thập niên đầu tiên kể từ sau Đổi mới 1986, nền kinh tế Việt Nam chứng kiến tiền kiều hối của Việt kiều tăng vọt. Ví dụ, thống kê năm 2005 của Ngân hàng Thế giới cho biết Việt Nam nhận gần 4 tỉ đôla kiều hối, chiếm 8% GDP đất nước. Luồng vốn và nhân lực nước ngoài đổ vào đất nước cũng gia tăng. Báo chí cũng tường thuật rằng đến năm 2009, nguồn vốn chủ yếu đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã chuyển từ Mỹ, châu Âu sang các nước châu Á như Đài Loan, Nam Hàn, Malaysia, Nhật Bản, Singapore.

Những thay đổi kinh tế vĩ mô này đã biến đổi cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, và cũng ảnh hưởng cả ngành công nghiệp tình dục. Các khu vực mới trong ngành công nghiệp sex xuất hiện khi mà khách hàng nam giới cũng có những đổi thay về giai cấp và chủng tộc.

Ví dụ, giai đoạn 2006-07, tôi phát hiện rằng khách hàng trả tiền cao nhất chủ yếu là Việt kiều hưởng thụ trong khi về Việt Nam chơi hay thăm gia đình. Điều này không ngạc nhiên vì khi đó, tiền kiều hối còn cao hơn FDI.

Nhưng đến năm 2009, khu vực cao giá nhất trong ngành công nghiệp sex lại quay sang phục vụ các doanh nhân người Việt trong nước và châu Á. Trung bình một tháng họ bỏ ra 15000- 20000 đôla ở các quán bar cao cấp. Những quán bar này chỉ có hệ thống karaoke bình thường, nhưng điều duy nhất đưa chúng lên thành cao cấp là loại rượu whisky, Johnny Walker Blue Label. Các cô phục vụ cũng bán dâm cho nhiều khách hàng, và có thu nhập trung bình 2000 đôla một tháng nhờ tiền boa, và khoảng 150 – 200 đôla cho mỗi lần qua đêm với khách.

Trao đổi với các cô gái, tôi nhanh chóng nhận ra là rất ít cô ở TP. HCM xem mình là bị bắt đi bán dâm. Thực tế, nhiều cô gái nói rõ là họ xem công việc này còn ít bị bóc lột hơn là nghề bồi bàn, giúp việc hay làm trong xưởng may.

Những cô gái ở quê sợ sệt hay chậm chạp mới phải đi làm nhà máy, kiếm 700.000 đồng một tháng.

Vân, một cô gái bar

Vân, một cô gái 24 tuổi, nói: “Những cô gái ở quê sợ sệt hay chậm chạp mới phải đi làm nhà máy, kiếm 700.000 đồng một tháng. Họ sẽ luôn nghèo vì không đủ dũng cảm hay thông minh để đổi đời.”

“Những người thông minh bỏ nhà máy, đi làm ở bar vì số lương kia họ kiếm được chỉ sau một giờ, và khách hàng đối xử còn đàng hoàng hơn ông chủ nhà máy.”

Các quán bar cao cấp là không gian nơi đàn ông trong nước chứng tỏ cho đối tác Á châu thấy rằng mặc dù Việt Nam là đất nước nhỏ, nước này cũng là dân chơi máu mặt trong nền kinh tế toàn cầu. Sau khi nốc sáu chai whisky, Thắng, một doanh nhân 56 tuổi, giải thích: “Thời kỳ Việt kiều đã qua rồi. Dân trong nước nay đi xe Bentley giá nửa triệu đôla. Khi dân Việt Nam đã chơi, thì còn dữ hơn dân Á châu hay Việt kiều.”

Cho dù doanh nhân trong nước và Á châu chiếm lĩnh khu vực cao giá nhất của ngành công nghiệp sex, đàn ông Việt kiều cũng không kém mấy. Khách hàng Việt kiều thường đến các club mở cho công chúng. Bên trong là bàn ghế để ngồi, uống rượu, có khi xem nhạc sống và mời các cô PG (promotion girl) đến bàn. Đêm đến, khách hàng có thể chèo kéo một cô gái nào đó qua đêm với giá chừng 100 đôla.

Công việc ‘thực sự’

Nhiều cô gái muốn từ nông thôn ra thành phố bằng nhiều cách khác nhau (ảnh minh họa)

Một buổi tối ở quán bar vắng khách, tôi nói chuyện với các cô về nghề của họ. Tôi hỏi họ có muốn tìm nghề khác không. Yến, 23 tuổi, nói: “Em xem đây là công việc thực sự. Nếu phục vụ trong nhà hàng hay quán cà phê, chỉ được khoảng 4 triệu đồng một tháng. Số tiền đó hai đêm ở đây là được, mà lại còn vui hơn. Em được gặp bao nhiêu người từ khắp thế giới.”

Thoại, 24 tuổi, nói thêm: “Người ta nghĩ em hẳn phải ngu lắm, em làm nghề này vì không tìm được việc. Nhưng ở đây em kiếm nhiều tiền hơn, thế ai ngu hơn? Khi em mới tới Sài Gòn, em làm ở xưởng có lương 1 triệu đồng một tháng. Ở Sài Gòn, lương vậy sao mà sống?”

Cũng có những quán bar phục vụ người Tây phương làm việc ở Việt Nam và du lịch ba lô. Chúng khác với các quán cho dân trong nước và Việt kiều ở chỗ đàn ông ở đây có thể mua bia rẻ tiền chỉ có 2 đôla. Năm 2007, tôi gặp Linh, 22 tuổi, làm ở khu dành cho các nhóm du lịch ba lô. Khi ấy, cô có quan hệ với 3 người khác nhau. Họ gửi tiền cho cô hàng tháng, rồi lại cả một khoản lớn để mở cửa hàng, giúp cô nuôi người cha đau yếu. Khi được hỏi cô có yêu người nào không, cô nói: “Khi mới vào nghề, em còn trẻ, không khôn ngoan lắm. Tôi yêu dễ dàng và rồi đau khổ. Nay em muốn thay đổi đời mình trước tiên, yêu là chuyện đi sau.”

Tình yêu

Vài tháng sau, Linh giới thiệu cho tôi gặp James, một người đàn ông 60 tuổi về hưu từ Úc. Tôi ngạc nhiên khi biết ông ta không chỉ tìm kiếm sex. Ông muốn yêu một cô gái mà ông mô tả là “trung thực, chăm làm, nhưng mắc kẹt ở đất nước thế giới thứ ba không có nhiều cơ hội.” James không đề cập chuyện lấy tiền đổi sex, mà ông xem quan hệ với Linh dựa trên tình yêu thật. Ông cũng tin rằng cô ấy yêu ông. Ông bày tỏ niềm tin rằng ông sẽ là người “cứu” cô ra khỏi cuộc đời làm gái bar.

Hai năm sau, 2009, Linh và James kết hôn và cô được cấp visa di cư sang Úc. Ở buổi tiệc chia tay, tôi hỏi: “Em có yêu anh ta không?”.

Cô trả lời: “Tụi em vất vả lắm để có visa, và ảnh rất cố gắng. Nay em yêu ảnh. Trong đời này hên sui thôi, em cảm thấy rất may mắn.”

Quan hệ của Linh và James minh họa cho cách mà các cô gái bán dâm đã có ý thức vượt qua lằn ranh giữa chuyện “ăn bánh trả tiền” và góc cạnh thân mật hơn. Những phụ nữ có vẻ yếu ớt lại có thể lợi dụng hệ thống áp bức họ, có lợi nhờ mối liên hệ đa quốc gia. Công việc bán dâm đôi khi chuyển hóa thành quan hệ thân mật, và nếu họ “may mắn”, họ còn có thể có những tình yêu chân thật.

Về tác giả:Kimberly Hoang là nghiên cứu sinh Khoa Xã hội học, Đại học California tại Berkeley. Cô viết riêng bài này cho BBC Việt ngữ, dựa trên bài nghiên cứu học thuật dài hơn đã đăng trên tạp chí Sexualities tháng Tư 2010.

@ BBC

————————————————————————————————————————————————————————-

John Mearsheime – Cơn bão đang quần tụ: Trung Quốc thách thức quyền lực của Hoa Kỳ tại châu Á

PHẦN MỘT

Hồ Kim Sơn dịch

(Chương trình diễn giảng Michael Hintze hàng năm lần thứ tư về an ninh thế giới)

Quả thật thú vị và vinh hạnh cho tôi được có mặt ở đây tại Đại học Sydney này để đăng đàn diễn giảng về đề tài quan hệ quốc tế trong chương trình diễn giảng Michael Hinzte hàng năm. Tôi xin được tỏ lòng biết ơn đối với ông Alan Dupont – người đã ngỏ lời mời tôi, và cảm ơn tất cả quý vị đã hội tụ về đây tối hôm nay để nghe tôi nói.

Hoa Kỳ là quốc gia hùng mạnh nhất trên hành tinh suốt nhiều thập kỷ nay, và là quốc gia đã triển khai những lực lượng quân sự hùng hậu đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương ngay từ những năm đầu của Đệ nhị Thế chiến. Sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực láng giềng của quí vị đã mang lại những kết quả có giá trị cho Australia và cho cả khu vực rộng lớn hơn.
Đây là cách thể chính quyền Australia nhìn nhận thực tế đó, chí ít theo Bạch thư quốc phòng 2009 thì: “Australia là quốc gia rất an toàn và ổn định suốt nhiều thập kỷ, nhìn theo tầm kích lớn, vì khu vực châu Á-Thái Bình Dương trên phạm vi rộng lớn hơn cũng đã được ân hưởng một kỷ nguyên hòa bình và ổn định chưa từng có trước đó do vị thế cầm đầu chiến lược của Hoa Kỳ bảo đảm.” Nói cách khác, Hoa Kỳ đã đóng vai người gìn giữ hòa bình cho khu vực này của thế giới.

Tuy nhiên, theo câu tiếp theo trong Bạch thư, “Trật tự đó đang chuyển đổi vì những thay đổi về kinh tế bắt đầu dẫn đến những thay đổi trong phân bổ quyền lực chiến lược.” Luận điểm nầy rõ ràng là đề cập đến sự trỗi dậy của Trung Quốc đang tác động đáng kể lên sự quân bình quyền lực toàn cầu. Đặc biệt, hố cách biệt quyền lực giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang thu hẹp lại và hoàn toàn có khả năng “thế cầm đầu chiến lược của Hoa Kỳ” trong khu vực này sẽ không còn nữa. Điều này không có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ biến mất đi; thực tế là sự hiện diện của Hoa Kỳ ở đây có khả năng gia tăng tương ứng theo đà trỗi dậy của Trung Quốc. Nhưng Hoa Kỳ sẽ không còn là cường quốc trội hơn trong khu vực láng giềng của quí vị nữa, như nó đã từng từ thời 1945.

Câu hỏi quan trọng nhất nảy lên từ cuộc thảo luận này là liệu Trung Quốc có thể trỗi dậy một cách hòa bình. Điều này quá rõ ràng như theo trong Bạch thư quốc phòng – mà có nhiệm vụ đánh giá tình hình chiến lược tính đến năm 2030 của Australia – cho rằng những nhà hoạch định chính sách ở đây đang lo lắng về sự thay đổi cân bằng quyền lực ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Xin hãy xem xét những lời bình như thế này trong Bạch thư: “Trong khi các cường quốc khác nổi lên, và vị thế cầm đầu của Hoa Kỳ đang ngày càng bị thử thách, những quan hệ giữa các cường quốc sẽ ắt phải thay đổi. Khi điều này xảy ra, hẳn nhiên sẽ tồn tại một khả năng tính toán sai lầm. Vẫn tồn tại một khả năng không đáng kể nhưng vẫn đáng quan ngại về sự đối đầu ngày càng lớn giữa một số trong những cường quốc nầy.” Một điểm khác trong Bạch thư mà chúng ta có thể đọc được, “Những nguy cơ do kết quả của cạnh tranh chiến lược leo thang có thể nổi lên bất cứ lúc nào và không đoán định được, và sẽ là một thành tố phải được tính đến trong việc hoạch định kế sách quốc phòng của chúng ta.” Nói tóm lại, chính phủ Australia dường như cảm nhận được sự hoán chuyển cán cân quyền lực giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ có lẽ có tác động không mấy tốt đẹp cho nền hòa bình trong khu vực lân bang.

Tôi muốn nêu lên quan điểm rằng nhân dân Australia cần nên lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc, bởi vì nó có thể dẫn đến một cuộc cạnh tranh an ninh gay gắt giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, mà rất thể có khả năng chiến tranh nổ ra. Hơn thế nữa, đa số những quốc gia lân bang của Trung Quốc, xin kể ra đây gồm Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore, Nam Hàn, Liên bang Nga, Việt Nam, và cả Australia nữa sẽ liên kết với Hoa Kỳ để kìm hãm quyền lực của Trung Quốc. Vậy xin nói thẳng thừng ra: Trung Quốc không thể trỗi dậy một cách hòa bình được.

Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng tôi không nghị luận rằng chỉ một mình hành động của Trung Quốc sẽ thúc đẩy cuộc cạnh tranh an ninh mà vẫn còn nằm ở phía trước. Hoa Kỳ cũng có khả năng hành động theo những cách gây hấn hung hãn, do vậy sẽ đẩy xa hơn triển vọng gây ra rắc rối cho ở đây – khu vực châu Á-Thái Bình Dương này.

Tất nhiên, không phải ai cũng đồng tình với lối nhận định tình hình này của tôi. Nhiều người tin rằng Trung quốc có thể trỗi dậy một cách hòa bình; họ cũng cho rằng không phải không thể không xảy ra việc Hoa Kỳ và Trung Quốc hùng mạnh sẽ làm nảy sinh những quan hệ đối đầu. Dĩ nhiên, họ giả định rằng Trung Quốc sẽ theo đuổi những mục đích hòa bình và rằng lẽ tất yếu của cuộc đời có thể giúp thiết lập ổn định tại khu vực này, mặc dù sự cân bằng quyền lực nền tảng được cho là sẽ thay đổi triệt để.

Tôi xin được mổ xẻ ba luận điểm căn bản mà thường được viện dẫn để bảo vệ cho tiên lượng bệnh có tính chất lạc quan này.

Thứ nhất, có một số người khẳng định rằng Trung Quốc có thể làm dịu đi nỗi e sợ đối với sự trỗi dậy của mình bằng việc bạch thị cùng những quốc gia lân bang và Hoa Kỳ rằng Trung Quốc chỉ theo đuổi những mục đích hòa bình, và sẽ không sử dụng vũ lực để làm thay đổi cán cân quyền lực. Kiến giải này có thể tìm thấy trong Bạch thư quốc phòng như thế nầy: “Cường độ, qui mô và cấu trúc của công cuộc hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc có khả năng gây ra quan ngại cho những quốc gia lân bang nếu nó không được giải trình cẩn thận, và nếu Trung Quốc không mở rộng vòng tay ra với những quốc gia khác để xây dựng niềm tin liên quan đối với những kế hoạch quân sự của mình.” Tự trong bản chất, niềm tin này cho rằng Trung Quốc có khả năng có thể gởi tín hiệu về những mục đích tương lai và hiện tại của mình cho Australia và những quốc gia khác theo những cách thức thật sự gợi mở.

Bất hạnh thay, các quốc gia trên thế giới không bao giờ có thể xác định được những mục đích hay dự định của nhau. Họ không thể biết được với một độ xác quyết cao liệu họ đang đối đầu với một quốc gia theo khuynh hướng xét lại hay một cường quốc theo khuynh hướng mặc định hiện trạng. Chẳng hạn, các chuyên gia vẫn không nhất trí được với nhau liệu có phải chăng Liên bang Sô viết đã có chủ định muốn thống trị cả lục địa Âu Á suốt thời gian Chiến tranh Lạnh. Cũng như không có đồng thuận nào đối với nghi vấn phải chăng Đế quốc Đức là một quốc gia hung hăng gây hấn cao độ phải chịu trách nhiệm chính đã gây ra Đệ nhất Thế chiến. Cội rễ của vấn đề là ở chỗ không giống như những khả năng quân sự có thể thấy bằng mắt và đo đếm được, những dự định không thể chứng minh trên cơ sở thực nghiệm. Những dự định nằm ở trong đầu của những nhà đưa ra quyết định và chúng đặc biệt rất khó nhận biết rõ bằng các giác quan. Quí vị có thể bảo rằng những nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể sử dụng ngôn từ để giải thích cho những dự định của họ. Nhưng lời nói thì rẻ và các nhà lãnh đạo rất nổi tiếng về việc chuyên lừa dối đối với thính giả ngoại quốc. Do vậy, thật khó biết được những dự định của những nhà lãnh đạo hiện thời của Trung Quốc, mà không có ý nói rằng họ nhất thiết là theo chủ trương xét lại.

Nhưng thậm chí giả định rằng quí vị có thể xác định được những dự định mục đích của Trung Quốc ngày hôm nay đi chăng nữa, thì cũng không có cách nào để biết được họ sẽ như thế nào trong tương lai. Tóm lại, không tài nào có thể chỉ đích danh ai là người thực thi những chính sách ngoại giao của quốc gia nào đấy từ 5 cho đến 10 năm trong tương lai, chứ chưa nói tới chuyện làm sao biết được những quốc gia đó có những dự tính xâm lược hay không. Nói bao nhiêu cũng không nhấn mạnh đủ một thực tế rằng chúng ta phải đối mặt với sự bất định triệt để bất cứ khi nào chúng ta muốn xác định rõ những dự tính tương lai của một quốc gia nào đó, bao gồm cả Trung quốc.

Luận điểm thứ hai là một Trung Quốc hòa nhã có thể tránh được sự đối đầu bằng cách xây dựng những lực lượng quân sự để tự vệ thay cho tấn công. Nói cách khác, Bắc Kinh có thể đưa ra chỉ dấu rằng mình là một cường quốc thực theo hiện trạng qua việc tự mình từ bỏ khả năng sử dụng vũ lực để làm thay đổi thế quân bằng quyền lực. Tóm lại, một quốc gia không có khả năng tấn công không thể là một quốc gia theo khuynh hướng xét lại, bởi vì nó không có phương tiện để thực thi hành động xâm lấn. Không ngạc nhiên chút nào khi chúng ta vẫn thường nghe những nhà lãnh đạo Trung Quốc ra rả tuyên bố rằng quân đội của họ được thiết dựng chủ yếu là cho những mục đích tự vệ. Lấy ví dụ, tờ New York Thời báo mới đây cho đăng một bài tường trình quan trọng về quân chủng hải quân Trung Quốc mà qua đó những cấp lãnh đạo vẫn khẳng định rằng quân lực hải quân của họ chỉ “thuần là một lực lượng tự vệ.”

Lập luận này có một nan đề: thật khó mà phân biệt được đâu là khả năng phòng vệ và đâu là khả năng tấn công của một lực lượng quân sự. Các nhà đàm phán tại Hội nghị Giải trừ vũ khí họp năm 1932 đã nỗ lực đưa ra những phân biệt như thế nhưng cuối cùng thấy mình bị mắc kẹt khi không thể phân định được những loại vũ khí cụ thể chẳng hạn như xe tăng hay khu trục hạm là có thuộc tính tự vệ hay tấn công. Vấn đề căn cốt là những khả năng mà các quốc gia phát triển chỉ để tự vệ lại thường có tiềm năng tấn công rất đáng kể. Hãy xem xét những gì Trung Quốc đang làm ngày hôm nay. Họ đang xây dựng những lực lượng quân sự có khả năng triển khai sức mạnh tầm xa đáng kể, và giống như Bạch thư quốc phòng cho chúng ta hay, “công cuộc hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc càng ngày càng thiên về đặc tính phát triển những khả năng triển khai sức mạnh tầm xa.” Ví dụ, Trung Quốc đang xây dựng những lực lượng hải quân có khả năng triển khai sức mạnh ra xa tới “Chuỗi đảo thứ hai” [Trong chiến lược vươn ra đại dương Trung Quốc đã định ra 2 chuỗi đảo, chuỗi đảo thứ nhất gồm cả Biển Đông, chuỗi đảo thứ hai được nói đến ở đây. ND ghi chú] nằm ở phía Tây Thái Bình Dương. Và họ còn tuyên bố đang lên kế hoạch để xây dựng lực lượng “hải quân biển xanh” có khả năng hoạt động ở vùng biển Ả Rập và Ấn Độ Dương. Vì những lý do thật dễ hiểu, họ muốn có khả năng tự bảo vệ những tuyến đường biển của họ mà không phải lệ thuộc vào hải quân Hoa Kỳ để giải quyết nhiệm vụ nầy. Mặc dù bây giờ họ chưa có được khả năng đó, như Robert Kaplan chỉ ra trong một bài báo mới đây đăng trên tờ Foreign Affairs (Những vấn đề ngoại giao), “Những nhà lãnh đạo hải quân của Trung Quốc đang phô diễn triết lý xâm lăng của Alfred Thayer Mahan – chiến lược gia về hải quân Hoa Kỳ tại-khúc-quanh-thế-kỷ-hai-mươi, người chủ trương kiểm soát mặt biển và những trận đánh quyết định.”

Hiển nhiên, đa số các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đều nghĩ rằng hải quân của họ chỉ thiên về tự vệ, mặc dù thực tế nó có khả năng tấn công rất đáng kể và khả năng đó sẽ mạnh hơn nữa trong tương lai. Thực ra, họ gán cho chiến lược hải quân của họ là “Phòng thủ Biển xa.” Như những nhận xét của Kaplan đã chỉ ra, gần như chắc chắn rằng khi hải quân của Trung Quốc phát triển cả qui mô lẫn khả năng, không một quốc gia lân bang nào của Trung Quốc, kể cả Australia, xem đó là để tự vệ. Tất cả các quốc gia đó đều xem đó là lực lượng tấn công kinh khủng. Cho nên, bất kì ai muốn xác định những dự tính tương lai của Trung Quốc qua việc quan sát lãnh vực quân sự của nó đều có thể đi đến kết luận rằng Bắc Kinh có quyết tâm gây hấn xâm lược.

Sau cùng là, có một số người vẫn cho rằng những ứng xử mới đây của Trung Quốc đối với những quốc gia lân bang, mà chưa có thể coi là xâm lược theo ý nghĩa trọn vẹn của nó, là những chỉ dấu đáng tin cậy về cách thức hành động của Trung Quốc trong những thập kỷ tới. Nan đề trung tâm của luận điểm này là hành tung trong quá khứ không phải lúc nào cũng là chỉ định đáng tin cho hành vi trong tương lai, bởi vì những nhà lãnh đạo đến rồi đi và có một số thì hiếu chiến hơn một số khác. Thêm vào đó, tình hình tại quốc nội và tại hải ngoại có thể biến chuyển theo cách khiến việc muốn sử dụng lực lượng quân đội trở nên hấp dẫn hơn hoặc kém đi.

Trường hợp Trung Quốc là một minh thị cho lập luận này. Hiện tại Bắc Kinh chưa sở hữu một quân đội có sức mạnh kinh khủng và chắc chắn nó chưa ở vào vị thế có thể gây chiến với Hoa Kỳ. Nói như thế không có ý cho Trung Quốc là một con cọp giấy, mà không có khả năng gây ra nhiều rắc rối trong khu vực này. Mặc dù vậy, tình hình như thế có triển vọng là sẽ thay đổi rất nhiều theo thời gian, và trong một trường hợp Trung Quốc sẽ có khả năng tấn công đáng kể. Đến lúc đó, chúng ta sẽ thấy nó “tận tụy” với hiện thực nguyên trạng như thế nào. Nhưng bây giờ chúng ta không thể nói gì nhiều về hành vi trong tương lai của Trung Quốc, bởi vì hiện tại nó chỉ có khả năng rất giới hạn để hành động theo cách gây hấn hung hãn.

Tất cả những thứ này báo cho chúng ta một điều là không hiện hữu một cách thức tốt đẹp nào để phỏng định Trung Quốc sẽ có những dự định gì trong tương lai hoặc tiên đoán hành vi trong tương lai của nó bằng cách chỉ căn cứ vào những chính sách ngoại giao gần đây của họ. Tuy nhiên, dường như không rõ rằng Trung Quốc sẽ hiển nhiên có một quân đội có tiềm năng tấn công đáng kể.

Từ nãy đến giờ, tôi chỉ mới đề cập đến cách thể một người Mỹ hoặc một người Úc bất kỳ nào có thể đánh giá hành tung tương lai của trung Quốc. Nhưng để hiểu rõ một cách tường tận sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ ảnh hưởng như thế nào đến nền an ninh ổn định trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chúng ta cũng phải xem xét những gì các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể tiên liệu về những hành tung tương lai của Hoa Kỳ, bằng qua việc xem xét những dự định, khả năng, và hành vi trong hiện tại của họ.

Một điều hiển nhiên là không có cách nào để những nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể biết ai sẽ là người có trách nhiệm điều hành chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ trong tương lai, chưa nói tới những dự định của họ đối với Trung Quốc sẽ như thế nào. Nhưng họ thừa biết tất cả những tổng thống Hoa Kỳ trong thời hậu Chiến tranh Lạnh, kể cả Tổng thống Barack Obama, đều đã tuyên bố rằng họ vẫn giữ vững chính sách Hoa Kỳ dẫn đầu như từ trước đến nay. Điều này có nghĩa là Washington có thể tiếp tục ngăn cản Trung Quốc không cho nó trở nên quá hùng mạnh trong một thời gian dài đáng kể.

Nói về khả năng quân sự của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ đã chi một số tiền khổng lồ cho quốc phòng nhiều hơn tất cả các quốc gia khác trên thế giới gộp lại. Hơn thế nữa, bởi vì quân đội của Hoa Kỳ được thiết kế để tác chiến ở bất cứ nơi đâu trên toàn cầu, nó đã có sẵn những khí tài dư thừa cho việc triển khai sức mạnh tầm xa. Đa phần khả năng đó hoặc đã được đồn trú sẵn trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương hoặc có thể nhanh chóng chuyển vận đến bất cứ khi nào có nhu cầu. Trung Quốc không thể nào không nhận ra rằng Hoa Kỳ đã có sẵn những lực lượng quân sự rất hùng hậu có mặt tại khu vực lân bang của mình, được thiết kế phần lớn là cho những mục đích tấn công. Đó là điều chắc chắn, khi Hoa Kỳ cho chuyển những khu trục hạm vào trong vùng biển Đài Loan – như đã xảy ra hồi năm 1996 – hoặc khi Hoa Kỳ tái triển khai những tàu ngầm đến vùng Tây Thái Bình Dương, Trung Quốc phải xem những khí tài hải quân này là có tính chất tấn công hơn là tự vệ. Điều này không loại trừ thực tế rằng đa số người dân Mỹ, giống như đa số người dân Trung Quốc, nghĩ rằng lực lượng quân sự của họ là công cụ tự vệ; nhưng đó không phải là cách nhìn nhận khi bạn ở phía đằng kia của họng súng. Do vậy, bất kỳ người dân nào ở Trung Quốc khi cố công lượng định những dự tính của Hoa Kỳ qua việc đánh giá những khả năng quân sự của nó cũng đều có thể nghĩ Hoa Kỳ là quốc gia theo khuynh hướng xét lại, không phải là một cường quốc theo khuynh hướng hiện thực nguyên trạng.

Tóm lại là, còn tồn tại một vấn đề liên quan hành động mới đây của Hoa Kỳ và điều có thể nói cho chúng ta hay những hành động trong tương lai của Hoa Kỳ như thế nào. Như tôi đã nói khi nãy, hành động quá khứ thường không phải là chỉ định đáng tin cậy cho hành vi trong tương lai, bởi vì tình thế luôn thay đổi và những nhà lãnh đạo mới thường suy nghĩ khác về chính sách ngoại giao so với những người tiền nhiệm của họ. Nhưng nếu giới lãnh đạoTrung Quốc muốn lượng định Hoa Kỳ có thể hành xử ra sao trong tương lai bằng cách xem xét chính sách ngoại giao mới đây của Hoa Kỳ, họ gần như chắc chắn sẽ kết luận rằng Hoa Kỳ là một quốc gia hiếu chiến và nguy hiểm. Cuối cùng là, Hoa Kỳ đã và đang lâm vào chiến tranh hết 14 năm của 21 năm từ sau Chiến tranh Lạnh kết thúc. Nghĩa là cứ 3 năm là có 2 năm lâm chiến. Và xin lưu ý rằng chính quyền Obama đang lăm le một cuộc chiến mới chống lại Iran.

Giáo sư John Mearsheimer, hiện giảng dạy tại Đại học Chicago, là một trong những nhà tư tưởng táo bạo và gây nhiều tranh cãi nhất Hoa Kỳ trong lãnh vực quan hệ quốc tế. Tác phẩm Những nhà vận động hành lang Do Thái và chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ do ông và Stephen Walt thuộc Đại học Harvard đứng tên đồng tác giả làm dấy lên những cuộc tranh luận nảy lửa, và đã được dịch sang 17 thứ tiếng.

PHẦN HAI

Có thể có người phản bác lại rằng cho dù tất cả đó đều là sự thật, nhưng Hoa Kỳ chưa hề hăm dọa tấn công Trung Quốc. Một vấn đề trong luận điểm này là những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ từ cả hai Đảng Dân chủ cũng như Cộng hòa đều tuyên bố rõ ràng rằng họ tin Hoa Kỳ là, xin trích dẫn lời của bà cựu ngoại trưởng Madeleine Albright, “quốc gia không thể thiếu được”, cho nên nó vừa có quyền vừa có trách nhiệm làm sen đầm trên toàn thế giới. Hơn thế nữa, đa số người Trung Quốc đều ý thức rất rõ Hoa Kỳ đã lợi dụng Trung Hoa yếu kém như thế nào bằng cách thúc ép đẩy nhanh chính sách “Mở cửa” bỉ ổi vào hồi đầu thế kỷ hai mươi. Những giới chức Trung Hoa cũng biết rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc đã choảng nhau trong cuộc chiến đẫm máu ở Triều Tiên giữa những năm 1950 và 1953. Không ngạc nhiên gì khi tờ Economist mới đây tường trình rằng, “Một vị tướng hồi hưu Trung Quốc đã so sánh hải quân của Hoa Kỳ giống như một người có thành tích tội phạm ‘cứ lảng vảng trước cửa nhà của một gia đình người ta’.”

Có vẻ như đây là trường hợp mà chúng ta nên tỏ lòng biết ơn mà nhiều quốc gia thường không chú ý đến hành tung quá khứ của một đối thủ tiềm năng trong khi cố gắng định ra những dự tính tương lai của mình.

Tất cả những điều đó nói lên cho chúng ta hay một điều rằng môi trường an ninh trong tương lai của khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ xoay quanh Hoa Kỳ và Trung Quốc, và mỗi một cường quốc lớn đó đều sở hữu một quân đội với khả năng tấn công rất đáng kể cùng với những dự tính không tài nào biết trước được.
Còn một yếu tố khác đóng vai trò rất quan trọng trong quan hệ Mỹ-Trung trong tương lai. Không hiện hữu một tổ chức thế quyền tập trung cao nào để cho những quốc gia quay sang nương tựa trong trường hợp có kẻ xâm lăng nguy hiểm hăm dọa họ. Không có người canh gác đêm trong hệ thống quốc tế; điều này có nghĩa là các quốc gia phải tự lực cánh sinh để đảm bảo sự tồn vong của mình. Do vậy, câu hỏi cốt lõi mà bất cứ nhà lãnh đạo nào cũng phải tự đặt ra cho mình là như thế này: đâu là phương cách để có thể tối ưu hóa nền an ninh của quốc gia mình trong một thế giới nơi mà một quốc gia khác có trong tay khả năng quân sự tấn công hùng hậu cũng như những dự định tấn công, và nơi không có tổ chức nào mạnh hơn mà ta có thể quay đến nương tựa nếu quốc gia hung hãn đó tỏ hăm dọa quốc gia ta? Câu hỏi này – hơn bất cứ câu hỏi nào khác – sẽ kích thích các giới lãnh đạo Hoa Kỳ cũng như Trung Quốc trong những năm tháng còn ở phía trước, giống như nó từng có trong quá khứ.
Tôi tin tưởng có một lời đáp thẳng cho câu hỏi này và rằng tất cả các cường quốc đều biết lời đáp đó và căn cứ theo đó mà hành động. Cách thức tốt nhất cho bất kỳ quốc gia nào có thể đảm bảo được sự tồn vong của mình là phải trở nên hùng mạnh hơn rất nhiều tất cả những quốc gia khác trong toàn hệ thống, bởi vì những quốc gia yếu hơn không thể tấn công nó vì sợ rằng sẽ bị đánh bại thảm hại. Ví dụ, không một quốc gia nào ở Tây bán cầu dám đánh lại Hoa Kỳ bởi vì Hoa Kỳ quá hùng mạnh so với tất cả những nước lân bang của nó.
Xin nói cụ thể hơn, điều kiện lý tưởng cho bất kỳ cường quốc lớn nào là phải duy trì vị trí bá chủ trong toàn hệ thống, bởi vì từ đó sự tồn vong của nó mới được hầu như bảo đảm. Một quốc gia bá chủ là một quốc gia rất hùng mạnh khiến có thể thống trị tất cả những quốc gia khác. Nói theo cách khác, không một quốc gia riêng lẻ nào khác có đầy đủ sức mạnh quân sự để có thể gây nên một cuộc chiến ra trò chống lại nó. Căn bản là, một quốc gia bá chủ là một cường quốc lớn duy nhất trong toàn hệ thống.
Khi người ta bàn đến chuyện quốc gia bá chủ ngày nay, họ thường đề cập đến Hoa Kỳ, mà theo mô tả của họ là một bá chủ toàn cầu. Tôi không thích gì cái thuật ngữ này, bởi vì dường như không có quốc gia nào – kể cả Hoa Kỳ – có thể đạt được danh hiệu bá chủ toàn cầu này cả. Trở ngại chính trong việc thống trị thế giới đó là khó khăn trong việc triển khai lực lượng vượt qua những khoảng cách lớn, đặc biệt là vượt qua những vùng nước mênh mông như Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.
Một giải pháp tối ưu mà một cường quốc lớn có thể hy vọng với tới là phải trở thành bá chủ khu vực, và có khả năng kiểm soát một khu vực khác gần kề và có thể thâm nhập dễ dàng bằng đường bộ. Hoa Kỳ, hiện tại đang thống trị khu vực Tây bán cầu, là bá chủ khu vực duy nhất trong lịch sử hiện đại. Năm cường quốc lớn khác đã nỗ lực thống trị từng khu vực riêng của mình – Đế chế Pháp thời Napoleon, Đế quốc Đức, Đế quốc Nhật, Đức Quốc xã, và Liên bang Sô viết – nhưng không một cường quốc nào đạt được thành công.
Hoa Kỳ, xin được nhấn mạnh, đã không ngẫu nhiên mà trở thành bá chủ ở Tây bán cầu. Khi Hoa Kỳ giành được độc lập vào năm 1783, nó chỉ là một quốc gia yếu bao gồm 13 bang nằm dọc theo bờ Đại Tây Dương. Suốt một thời kỳ kéo dài 115 năm sau đó, những nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ đã bền bỉ làm việc cố theo đuổi ngôi vị bá chủ trong khu vực. Họ đã mở rộng biên cương từ Đại Tây Dương sang đến Thái Bình Dương như một phần của chính sách thường được nhắc đến dưới tên gọi “Biểu thị Vận mệnh.” Thực vậy, Hoa Kỳ là một cường quốc bành trướng hàng đầu. Henry Cabot Lodge [một sử gia nổi tiếng kiêm chính trị gia thuộc Đảng Cộng hòa, 1850-1924 – ND] nhận xét rất đích đáng khi ông viết rằng Hoa Kỳ có “thành tích chinh phục, thuộc địa hóa, và bành trướng lãnh thổ không một dân tộc nào có thể sánh nổi trong cả thế kỷ mười chín.” Và tôi có thể thêm vào cả thế kỷ hai mươi nữa.
Nhưng những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ vào hồi thế kỷ thứ mười chín không chỉ quan tâm muốn biến Hoa Kỳ trở thành một quốc gia hùng mạnh về lãnh thổ. Họ còn quyết tâm đẩy những cường quốc lớn châu Âu ra khỏi Tây bán cầu, và tỏ rõ cho những cường quốc ấy thấy là họ không được hoan nghênh quay trở lại. Chính sách này, vẫn còn hiệu lực đến tận ngày hôm nay, được biết đến với tên gọi “Học thuyết Monro.” Khoảng vào năm 1898, đế quốc cuối cùng của châu Âu thống trị ở châu Mỹ sụp đổ và Hoa Kỳ đã trở thành quốc gia bá chủ trong khu vực.
Các quốc gia đã đạt được ngôi vị bá chủ khu vực có một mục đích xa hơn: chúng cố ngăn cản những cường quốc lớn tại những khu vực địa lý khác không được rập khuôn kỳ công của nó. Một quốc gia bá chủ khu vực, nói cách khác, không muốn có đối thủ cạnh tranh ngang vai cùng vế. Hoa Kỳ, chẳng hạn, đã đóng vai trò chính trong việc ngăn cản đế quốc Nhật, đế quốc Đức, Đức Quốc xã, và Liên bang Sô-viết tranh hùng ngôi bá khu vực. Những quốc gia bá chủ khu vực nỗ lực kiểm soát những quốc gia bá chủ đầy tham vọng tại những khu vực khác, bởi vì chúng sợ rằng một cường quốc đối thủ lớn nắm ngôi bá chủ tại khu vực của nó sẽ trở thành một kẻ thù đặc biệt hùng mạnh mà có thể tự do thong dong khắp toàn cầu và gây rắc rối ngay tại sân sau của chúng. Những quốc gia bá chủ khu vực chỉ mong muốn rằng cần có ít nhất hai cường quốc lớn cùng cát cứ tại những khu vực khác, bởi vì sự gần gũi của chúng sẽ buộc chúng phải tập trung canh chừng nhau hơn là để chừng đến quốc gia bá chủ xa xôi. Hơn nữa, nếu có một nước bá chủ tiềm năng nổi trội lên trong đám bọn chúng, những cường quốc lớn khác trong khu vực đó có thể tự kìm hãm nó lại, cho phép quốc gia bá chủ xa xôi kia có thể tồn tại an toàn đứng ngoài cuộc không can dự.
Điều mấu chốt là vì những lý do chiến lược đúng đắn, Hoa Kỳ đã phải vật lộn vất vả hơn một thế kỷ để đạt được ngôi vị bá chủ khu vực, và từ sau khi đạt được mục đích đó, nó phải đảm bảo rằng không một cường quốc lớn nào có thể thống trị hoặc châu Á hoặc châu Âu theo cái lối nó đang thống trị vùng Tây bán cầu.
Hành tung trong quá khứ của Hoa Kỳ mách bảo cho chúng ta điều gì về sự trỗi dậy của Trung Quốc? Cụ thể là, chúng ta nên trông mong Trung Quốc hành động ra sao khi nó trở nên hùng mạnh hơn?
Tôi mong muốn Trung Quốc cũng hành xử giống như Hoa Kỳ đã từng trong suốt quá trình lịch sử của nó. Đặc biệt, tôi tin rằng Trung Quốc sẽ cố gắng thống trị khu vực châu Á-Thái Bình Dương giống như Hoa Kỳ đang thống trị khu vực Tây bán cầu. Vì những lý do lợi ích chiến lược, Trung Quốc sẽ tối đa hóa hố ngăn cách quyền lực giữa nó với những quốc gia lân bang nguy hiểm tiềm tàng như Ấn Độ, Nhật Bản và Liên bang Nga. Trung quốc chắc chắn rất muốn mình phải trở nên thật hùng mạnh để không một quốc gia nào ở châu Á có đủ sức lực uy hiếp lại mình. Có thể Trung Quốc sẽ không theo đuổi con đường siêu vượt về quân sự để có thể đi theo con đường chiến tranh và chinh phục những quốc gia khác trong khu vực, mặc dù đó luôn luôn là một khả năng. Thay vào đó, có nhiều khả năng hơn là Trung Quốc rất muốn vạch ra những giới hạn cho những hành động có thể chấp nhận được đối với các quốc gia lân bang, gần giống như cách thức Hoa Kỳ đã tỏ rõ cho những quốc gia khác ở châu Mỹ biết rằng Hoa Kỳ là ông trùm. Nhắm đến ngôi vị bá chủ khu vực, tôi xin thêm vào, có thể là cách thức duy nhất Trung Quốc sử dụng để lấy lại Đài Loan.
Một Trung Quốc hùng mạnh gấp nhiều lần cũng có thể, trong mong ước, thử sức đánh đuổi Hoa Kỳ ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương, giống như cách thức Hoa Kỳ đã từng đuổi những cường quốc châu Âu ra khỏi khu vực Tây bán cầu vào hồi thế kỷ 19. Chúng ta nên mong sao Trung Quốc tạo ra được một phiên bản Học thuyết Monroe cho riêng mình, giống như Đế quốc Nhật đã làm hồi thập niên 1930. Sự thực là chúng ta đã thấy những nét tương tợ của chính sách đó. Hãy xem xét sự kiện sau, vào hồi tháng Ba, giới chức Trung Quốc đã nói với hai nhà hoạch định chính sách cao cấp Hoa Kỳ rằng Hoa Kỳ không còn được phép can thiệp vào khu vực Biển Đông, mà Trung Quốc xem như là vùng “quyền lợi cốt lõi” giống như Đài Loan và Tây Tạng vậy. Và dường như Trung Quốc cũng nghĩ giống như vậy với vùng biển Hoàng Hải. Tuần vừa rồi Hoa Kỳ và Nam Hàn cùng tập trận hải quân chung để tỏ phản ứng đối với vụ tàu chiến của Nam Hàn bị nghi là do Bắc Hàn đánh chìm. Những cuộc thao diễn hải quân đó đã được lên kế hoạch từ ban đầu là sẽ được thực hiện trên vùng biển Hoàng Hải, tiếp giáp với vùng bờ biển của Trung Quốc, nhưng do bị Trung Quốc phản đối mãnh liệt khiến chính quyền Obama phải quyết định dời xa về hướng đông gần Biển Nhật Bản.
Những mục đích đầy tham vọng này rất có ý nghĩa chiến lược đối với Trung Quốc. Bắc Kinh những muốn một Nhật Bản yếu về quân sự và Liên bang Nga là những quốc gia lân bang của mình, cũng giống như Hoa Kỳ thích có Mexico và Canada yếu kém về quân sự nằm tiếp giáp với nó. Không quốc gia tỉnh táo và sáng suốt nào mà lại muốn những quốc gia hùng mạnh khác hiện hữu trong khu vực của nó. Mọi người dân Trung Quốc chắc chắn vẫn còn nhớ rõ những gì đã xảy ra trong thế kỷ qua khi mà Nhật Bản hùng mạnh và Trung Quốc suy yếu. Hơn nữa, tại sao một Trung Quốc hùng mạnh lại có thể chấp nhận được những lực lượng quân sự Hoa Kỳ vào hoạt động ngay tại sân sau của mình?
Rốt lại, những nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ phải bày tỏ sự giận dữ một khi những cường quốc xa xôi phái lực lượng quân sự đến trong vùng Tây bán cầu. Những lực lượng ngoại quốc đó được xem như một mối đe dọa tiềm năng đối với nền an ninh Hoa Kỳ. Lý lẽ tương tự như thế nên áp dụng cho Trung Quốc. Tại làm sao Trung Quốc có thể thấy an toàn với lực lượng của Hoa Kỳ triển khai đến sát ngay trước cửa nhà mình? Căn cứ theo lý lẽ của Học thuyết Monroe, phải chăng nền an ninh của Trung Quốc sẽ được tốt hơn lên nhiều nếu tống khứ được lực lượng quân đội Hoa Kỳ ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương?
Tại sao chúng ta lại mong mỏi Trung Quốc nên hành xử khác hơn so với Hoa Kỳ trong suốt tiến trình lịch sử của nó? Có phải họ nguyên tắc hơn người Mỹ? Đạo đức hơn? Có phải họ kém dân tộc chủ nghĩa hơn người Mỹ? Kém quan ngại hơn về sự tồn vong của họ? Với tất cả những thứ nầy, câu trả lời của họ luôn luôn là không, hiển nhiên, đó là lý do tại sao Trung Quốc tỏ ra như đang bắt chước Hoa Kỳ và phấn đấu để trở thành một quốc gia bá chủ khu vực.
Và Hoa Kỳ sẽ phản ứng ra sao nếu Trung Quốc vươn lên thống trị châu Á? Theo cứ liệu lịch sử thì rõ rành rành rằng Hoa Kỳ không bao giờ chịu có đối thủ cạnh tranh ngang vai bằng vế. Như được minh chứng qua suốt cả thế kỷ 20, Hoa Kỳ kiên quyết duy trì vị trí quốc gia bá chủ khu vực duy nhất của thế giới. Do vậy, có thể thấy rõ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục kìm hãm Trung Quốc một thời gian lâu dài nữa và tuyệt đối làm cho Trung Quốc suy yếu đến mức không còn có thể đe dọa thống trị tại khu vực châu Á mới thôi. Trong bản chất, Hoa Kỳ muốn đối xử với Trung Quốc theo cách tương tự như nó đã đối xử với Liên bang Sô-viết  trong suốt thời gian Chiến tranh Lạnh.
Những quốc gia lân bang của Trung Quốc trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương chắc chắn phải e sợ trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, và họ sẽ làm tất cả mọi cách để có thể ngăn cản không cho nó trở thành bá chủ khu vực. Thực tế là, đã có được những chứng cớ xác đáng cho thấy rằng những quốc gia như Ấn Độ, Nhật Bản, và Liên bang Nga, cũng như những cường quốc nhỏ như Singapore, Nam Hàn, và Việt Nam, đang lo ngại trước sự vươn lên của Trung Quốc và đang tìm mọi cách để kìm hãm Trung Quốc. Ví dụ, vào tháng 10 năm 2008, Ấn Độ và Nhật Bản đã ký kết “Tuyên bố An ninh Chung,” một phần chính là do họ lo sợ trước sức mạnh càng ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Ấn Độ và Hoa Kỳ, đã có quan hệ với nhiều thử thách suốt thời gian Chiến tranh Lạnh, đã trở trành đôi bạn thân thiết hơn một thập kỷ qua, phần lớn chỉ vì cả hai đều sợ Trung Quốc. Chỉ mới tháng rồi, chính quyền Obama, với đầy những con người luôn cao giọng rao giảng cho cả thế giới về tầm quan trọng của nhân quyền, đã tuyên bố tái lập quan hệ với những lực lượng đặc biệt thuộc thành phần ưu tú của Indonesia, bất chấp thành tích vi phạm nhân quyền dày cộm của nhóm này. Nguyên nhân của sự thay đổi này là Washington muốn có Indonesia đứng về phía họ trong khi Trung Quốc ngày càng trở nên hùng mạnh, và như tờ New York Thời báo tường trình, giới chức Indonesia “để lộ gợi ý rằng nhóm lực lượng đặc biệt này có thể khai thác và tạo dựng liên kết với quân đội Trung Quốc nếu Hoa Kỳ vẫn duy trì cấm vận họ.”
Là quốc gia nằm án ngữ trong vùng eo biển trọng yếu Malacca và rất lo ngại về sức mạnh ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc, Singapore tha thiết muốn nâng cấp mối quan hệ vốn dĩ đã rất gần gũi với Hoa Kỳ. Nhằm đạt được mục đích đó, vào cuối thập niên 1990, Singapore đã cho xây dựng Căn cứ Hải quân Changi để hải quân Hoa Kỳ có thể triển khai tàu sân bay đến Singapore nếu có yêu cầu. Và một quyết định mới đây của Nhật Bản cho phép lực lượng Thủy quân Lục chiến tiếp tục ở lại căn cứ Okinawa là do xuất phát từ quan ngại của Tokyo đối với thái độ hung hãn của Trung Quốc trong khu vực, đồng thời do nhu cầu liên đới muốn duy trì vững vàng cái ô dù an ninh của Mỹ trên đầu Nhật Bản. Đa số những quốc gia lân bang của Trung Quốc hiển nhiên sẽ tham gia liên minh đối trọng do Hoa Kỳ lãnh đạo được hoạch định để kiểm soát sự trỗi dậy của Trung Quốc, rất giống cách thức Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, và ngay cả Trung Quốc, liên kết lực lượng với Hoa Kỳ để ngăn chặn Liên bang Sô-viết suốt thời gian Chiến tranh Lạnh.
Tôi xin thảo luận chi tiết hơn điều tôi nghĩ như thế nào về sự trỗi dậy của Trung Quốc đặc biệt ảnh hưởng tới Australia ra sao. Australia có được ưu thế do vị trí địa lý của mình mang lại là điều quá hiển nhiên không gì phải bàn cãi; Australia nằm cách rất xa Trung Quốc và hai quốc gia bị chia cắt bởi những vùng biển mênh mông. Australia, hiển nhiên, phải đối mặt với một tình thế tương tự, ý tôi muốn nhắc tới trường hợp Đế quốc Nhật, giúp giải thích tại sao quân đội Nhật đã không xâm lăng Australia khi nó hoành hành khắp khu vực châu Á-Thái Bình Bương vào tháng 12 năm 1941.
Có người đánh liều cho rằng nhờ vị trí địa lý cách biệt như thế nên Australia ít lo sợ Trung Quốc và do thế nó có thể yên tâm đứng ngoài cuộc trong khi liên minh đối trọng liên kết với nhau để kiềm chế Trung Quốc. Thực ra, Bạch thư 2009 nêu lên khả năng “một chính quyền Australia bất kỳ có thể có quan điểm cho rằng trung lập về quân sự là giải pháp tối ưu cho mục đích bảo toàn an ninh quốc gia và lãnh thổ.” Điều này sẽ không bao giờ xảy ra, bởi vì Trung Quốc – nếu vẫn tiếp tục trỗi dậy nhanh chóng – hiển nhiên sẽ phô diễn cho Australia thấy mối đe dọa trầm trọng đến mức khiến Australia không còn cách nào khác là phải tham gia vào liên minh do Mỹ cầm đầu để kiềm chế Trung Quốc. Tôi xin nêu lên ba điểm để củng cố cho lập luận này.
Trước nhất, xin lưu ý rằng lúc này đây chúng ta không nói tới mối đe dọa gây ra bởi lực lượng quân sự hiện thời của Trung Quốc, mà thực ra nó chưa có nhiều khả năng khiển khai lực lượng tầm xa và cũng chưa phải là mối nguy hiểm ghê gớm cho những quốc gia lân bang trong vùng. Chúng ta đang nói tới việc dân chúng Australia sẽ nghĩ như thế nào về một Trung Quốc trải qua hai thập kỷ nữa với mức tăng trưởng kinh tế thật ấn tượng và sẽ sử dụng nguồn tích sản giàu có dư thừa đó để xây dựng một quân đội với trang bị vũ khí tối tân tinh vi thượng thặng. Chúng ta đang nói tới một quân đội Trung Quốc đang tiến gần đến tầm mức có thể kèn cựa với quân đội Hoa Kỳ trên khía cạnh phẩm chất của vũ khí. Một quân đội Trung Quốc như thế nên có hai ưu điểm quan trọng thắng lướt đối thủ Hoa Kỳ. Nó phải lớn, có lẽ phải lớn hơn rất nhiều, bởi vì dân số của Trung Quốc sẽ tối thiểu lớn hơn gấp ba lần dân số Hoa Kỳ vào thời điểm giữa thế kỷ này. Hơn thế nữa, Hoa Kỳ sẽ ở vào thế rất bất lợi trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc, bởi vì quân đội của Hoa Kỳ phải triển khai quân qua hơn 6,000 dặm trên đại dương, trong khi đó quân đội của Trung Quốc chỉ hoạt động trong sân sau của mình. Tóm lại, Trung Quốc có khả năng có một tiềm lực quân sự tấn công mạnh hơn nhiều vào năm 2030 so với hiện nay 2010.
Thứ nhì, mặc dù đế quốc Nhật đã không thực hiện cuộc tấn công gồm thủy và bộ lên Australia vào năm 1942, nó đã nghiền ngẫm nghiêm túc phương án đó, và đã quyết định hủy bỏ nó không chỉ bởi vì những khó khăn hiện hữu trong việc triển khai, mà còn vì Nhật đã nghĩ họ có một giải pháp chiến lược thay thế để xử lý với Australia. Đặc biệt là, Nhật đã nghĩ rằng nó có thể sử dụng tầm kiểm soát của nó ở Tây Thái Bình Dương để cô lập và trung lập hóa Australia. Mặc dù chiến lược đó đã thất bại, chúng ta cũng không nên bỏ qua sự kiện rằng đế quốc Nhật đã là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với Australia. Đó chính là lý do tại sao Australia đã hăng hái chiến đấu sát cánh với Hoa Kỳ trong Đệ nhị Thế chiến.
Thứ ba là, những chiến lược gia Trung Hoa đang rất chú ý đến Australia trong những năm tới, chủ yếu là vì dầu hỏa. Việc lệ thuộc vào dầu nhập khẩu của Trung Quốc, hiện đã rất đáng kể, sẽ gia tăng rất lớn trong vài thập kỷ tới. Phần lớn số dầu nhập khẩu đó là từ vùng Trung Đông và hầu hết phải được vận chuyển về Trung Quốc bằng đường biển. Khi bàn đến việc vận chuyển dầu hỏa bằng ống dẫn hoặc bằng tàu lửa qua ngả Miến Điện và Pakistan, một thực tế hiển nhiên là vận chuyển biển vẫn là chọn lựa dễ dàng và rẻ hơn rất nhiều. Và hiển nhiên người Trung Hoa thấu hiểu được điều đó và đó là một trong những lý do họ triển khai kế hoạch xây dựng lực lượng hải quân biển xanh. Họ muốn có khả năng để bảo vệ những tuyến đường biển lưu thông giữa họ và Trung Đông.
Trung Quốc đối mặt với những trở ngại địa lý lớn trong việc đảm bảo an toàn cho những tuyến đường biển đó; điều này mang những hàm ý rất có ý nghĩa đối với Australia. Đặc biệt, có ba luồng biển chính nối Biển Đông với Ấn Độ Dương. Mặt khác, nhiều quốc gia Đông Nam Á khác nhau đang phân chia hai vùng biển lớn trong những số đó. Điều này có nghĩa là Trung Quốc bắt buộc phải có đường vào bất cứ lúc nào tối thiểu một trong các vùng biển đó nếu Trung Quốc hy vọng muốn có khả năng kiểm soát những tuyến đường biển của họ nối liền với vùng Trung Đông giàu dầu hỏa. Tàu thuyền của Trung Quốc có thể đi qua eo biển Malacca, bao quanh bởi Indonesia, Malaysia, và Singapore, hoặc là chúng có thể đi xa hơn xuống phía nam rồi đi qua một trong hai ngả là eo biển Lombok hoặc eo biển Sunda, cả hai đều cắt xuyên qua Indonesia, và cả hai đều đưa quí vị ra tới những vùng biển mênh mông của Ấn Độ Dương, mà lại chỉ ở ngay phía tây bắc của Australia.
Trung Quốc, tuy nhiên, chắc không thể dàn xếp ổn thỏa vụ eo biển Malacca thông qua một cuộc đối đầu với Hoa Kỳ, bởi vì Singapore, là một đồng minh thân cận của Washington, án ngữ ngay tại eo biển này. Đây là điều mà những chiến lược gia Trung Hoa gọi là “cái tiến thoái lưỡng nan Malacca.” Do vậy, Trung Quốc có sự thôi thúc mạnh mẽ để đảm bảo tàu thuyền của họ luôn có thể lưu thông qua hai cửa ngõ chính băng ngang qua Indonesia.
Tình huống này hầu như có nghĩa chắc rằng Trung Quốc sẽ duy trì sự hiện diện quân sự đáng kể tại những vùng biển ngoài khơi bờ biển phía bắc của Australia và có lẽ ngay cả trong lãnh thổ của Indonesia. Trung Quốc chắc chắn rất quan ngại tới những khả năng triển khai sức mạnh tầm xa của Australia, và sẽ làm mọi cách để đảm bảo chúng không thể được dùng để ngăn chặn hai eo biển Lombok và Sunda hoặc đe dọa hoạt động vận tải biển của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương. Những bước đi mà Trung Quốc thực thi để vô hiệu hóa mối đe dọa mà Australia tạo ra cho những tuyến đường biển của họ – và xin hãy nhớ rằng, chúng ta đang nói đến một Trung Quốc hùng mạnh gấp bội lần hơn Trung Quốc hiện tại – chắc chắn sẽ đẩy Canberra đến gần và liên minh với Washington để kìm hãm Trung Quốc. Nói tóm lại, có một số giới hạn nghiêm trọng đối với mức độ như thế nào cái ưu thế địa lý có thể che chở cho Australia khỏi một Trung Quốc bành trướng.
Bức tranh tôi vừa vẽ lên cho quí vị thấy tối hôm nay về những gì có thể xảy ra nếu Trung Quốc tiếp tục có tốc độ phát triển kinh tế ấn tượng như hiện nay quả thật không phải là bức tranh đẹp. Mà thực ra, đó là bức tranh u ám đáng buồn. Tôi những ước gì mình có thể trình bày được một câu chuyện lạc quan hơn về những ngưỡng vọng hòa bình trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng thực tế vấn đề chính trị thế giới là một công việc xấu xa và nguy hiểm và không một mảy may thiện chí nào có thể cải thiện được cuộc cạnh tranh gay gắt về an ninh mà đang hiện hình rõ nét khi một quốc gia bá chủ đầy khát vọng xuất hiện trong vùng lục địa Âu Á. Và không hoài nghi chút nào có một quốc gia bá chủ như thế đang lấp ló ở chân trời.
Xin cám ơn tất cả quí vị.
Giáo sư John Mearsheimer, hiện giảng dạy tại Đại học Chicago, là một trong những nhà tư tưởng táo bạo và gây nhiều tranh cãi nhất Hoa Kỳ trong lãnh vực quan hệNhững nhà vận động hành lang Do Thái và chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ do ông và Stephen Walt thuộc Đại học Harvard đứng tên đồng tác giả làm dấy lên những cuộc tranh luận nảy lửa, và đã được dịch sang 17 thứ tiếng.
Bản tiếng Việt © 2010 talawas
————————————————————————————————————————————————————————–