VIẾT VỀ NGÀY 30 THÁNG TƯ

Nguyễn Ngọc

Tôi ấp ủ ý định từ lâu để kể cho mọi người nghe câu chuyện “Gia đình tôi” dưới hình thức truyện ngắn hoặc tự truyện. Vào những lúc rảnh rỗi, tôi loay hoay khai triển bố cục câu chuyện, thời gian, không gian v.v… và thấy… khó, mặc dù ý tưởng đã có từ lâu với những chất liệu thật từ gia đình mình.

Khó vì nhiều lẽ. Thứ nhất – tôi tự thấy, tôi không có năng khiếu để trở thành nhà văn mà chỉ có thể trở thành nhà giáo dạy văn – đó cũng là ước mơ ngày xưa còn nhỏ. Thứ hai – câu chuyện của gia đình tôi là câu chuyện khá đau thương và bi đát trong cái nhìn, cách nghĩ của tôi, mà tôi lại ngại sức diễn đạt có hạn của mình có thể làm câu chuyện trở nên thô kệch hoặc tô hồng hay bôi đen, hoặc một cái gì đó làm người đọc trơ lỳ, vô cảm, dè bỉu hay “thấy nó giả giả thế nào đó” v.v… thì sẽ làm tôi thêm đau lòng và có lỗi đối với gia đình, giòng họ. Với câu chuyện “đặc quánh chính trị” thì cũng chẳng nhà xuất bản nào dám làm cho tôi để mà kiếm tiền và càng không nghĩ để nổi tiếng, vì tôi tự biết mình như đã nói trên. Mục đích của việc tôi định viết truyện cũng chỉ để chia sẻ với bạn bè một việc – Người Việt hãy yêu thương nhau hơn!

Thời cuộc đẩy đưa, trôi nổi, biến cố gia đình gắn liền biến cố lịch sử nước nhà đã buộc tôi tạm gác lại và sau đó là… dẹp luôn ước mộng đầu đời bình dị là trở thành nhà giáo dạy văn, còn câu chuyện “Gia đình tôi” cho đến giờ cũng chưa thể viết những dòng đầu tiên…

Thôi thì tạm gác… nữa! Tôi cũng không dám hứa với bạn bè là khi nào thì có thể bắt tay. Thôi thì, từ từ vậy. Cái gì đến chắc chắn nó sẽ đến, phải không các bạn?

Tạm gác qua câu chuyện riêng của mình, tôi lại nhớ về biến cố lịch sử Việt Nam: Ngày 30 tháng 04 năm 1975.


Quá nhiều tên gọi cho cái ngày này của cả “phía bên này”, “phía bên kia”. Dù cho tên gọi ngày này là hay, là dở, là đau buồn, là vui mừng, là cay đắng, là tự hào, là phẫn uất, là hãnh diện, là tiếc nuối, là dứt bỏ, là chê bai, là ca ngợi v.v… là gì gì đi nữa thì Ba Mươi Tháng Tư Năm Một Ngàn Chín Trăm Bảy Mươi Lăm là sự thật lịch sử. Chỉ có điều đó là một sự thật lịch sử kỳ lạ nhất thế giới chỉ bởi một lẽ – Ba mươi lăm năm rồi, mọi người Việt Nam từ trong cho tới ngoài nước, từ thật già đến già đến trung niên đến thanh niên đến trẻ con đều nhớ với tâm trạng cũng… lạ nốt! Không lạ sao! Khi đã gọi là “Ngày Lễ” – mà là lễ lớn của Quốc gia, thì hầu như ai cũng nên vui mừng và cùng tận hưởng; đằng này kẻ vui mừng, người đau xót, kẻ dửng dưng, người đăm chiêu, kẻ hồ hỡi, kẻ xem như dịp nghỉ dài ngày để đi chơi, người xem như ngày giỗ đau buồn!

Bên vui mừng, phấn khởi, hồ hỡi xem như là một chiến công kỳ diệu – như họ được dạy dỗ bao năm qua – mà những người dạy dỗ về ngày này hiện nay không chết thì cũng đã lẫn hết rồi! – Tạm gọi bên Một.

Bên đau buồn, phẫn uất, chê bai xem như là một mối quốc hận khôn cùng – như họ đã gặm nhấm bao năm qua – mà những gặm nhấm này chắc cũng đã “mòn cả răng”! Tạm gọi bên Hai.

Bên Ba – những người chỉ muốn tự do, dân chủ nhằm đem lại cho họ cuộc sống bình yên, không hận thù và chí thú làm ăn. Không phải họ không biết những gì bên Một và bên Hai đang nghĩ về nhau, không phải họ ngại biểu lộ suy nghĩ của mình mà vì chẳng bên nào chịu nghe họ biểu lộ. Bên Một thì gán cho họ là phản động nghe bên Hai xúi giục. Bên Hai thì gán cho họ là Hồng Vệ Binh làm tay sai cho bên Một. Điều đáng tiếc là bên Một và bên Hai không chịu thấy bên Ba mới là thành phần đông về số lượng, cao về tri thức và trên hết: Họ chán rồi! chán lắm rồi cái cách mà hai bên nghĩ và áp đặt về họ. Một bộ phận rất lớn của bên Ba lại là dân trong nước. Không dám đề cập đến bên Bốn (những người dửng dưng, chẳng buồn, vui, thao thức, chẳng nghĩ ngợi gì, ờ! bên nào cũng… được!)

Có phải các bên chẳng thật sự chịu lắng lòng lại để nghĩ đến nhau???

Bên Một thì bảo rằng: Các anh là kẻ bại trận làm gì có tư cách nói chuyện với chúng tôi. Bên Hai lại bảo rằng: chúng tôi thua vì bị Mỹ bỏ rơi, thất thế, các anh vẫn được Liên Xô, Trung Quốc bao biện đến tận chân răng thì có gì mà hay! Bên Ba thì ngao ngán, bên Bốn thì thờ ơ như hồi nào vẫn vậy!

v.v và v.v…

Câu chuyện bỗng trở nên rối rắm và bế tắc chỉ vì “thắng – thua“.

Bao giờ thì chúng ta thôi nghĩ về thắng – thua?

Vinh dự, hãnh diện gì khi anh em sẵn sàng giết nhau, dối trá và chà đạp vì lợi ích riêng mình?

Bao giờ thì bên Một thôi hát vang “bài ca chiến thắng”?

Bao giờ thì bên Một thôi cười thật to vì chiến tích lẫy lừng?

Các người đã hát ròng rã 35 năm nay rồi, đã cười đến “sái quai hàm” suốt 35 năm nay rồi, đã ngạo nghễ để dạy dỗ cho bên Hai và bên Ba nhiều đến nỗi hai bên này “méo cả mặt” và “quay cuồng cả đầu”. Ba mươi lăm năm! Đủ chưa? Sao bên Một cứ mãi hát và cười . Cười và hát. Hết hát lại cười. Hết cười lại hát. Hình ảnh này làm người ta có thể nghĩ đến người điên! Chẳng lẽ bên Một không còn việc gì khác mà mỗi độ xuân về, mỗi ngày 30.4 hàng năm lại hát và cười, cười và hát, cổ vũ động viên bên Ba, bên Bốn cùng hát và cười, cùng nhìn và chỉ trỏ, “vỗ tay tán thưởng” khi bên Hai đang lầm lũi bên bàn thờ hay lặng lẽ ở nghĩa trang Biên Hòa thắp nhang cho ai đó?

Bên Một có biết, để cho các vị hát và cười mỗi dịp 30.4 là máu xương, thịt, da, niềm u uất của biết bao nhiêu thân nhân bên Hai, bên Ba, bên Bốn không?

Cái ghế các vị đang ngồi ấm êm có máu xương của vợ con ông Võ văn Kiệt và máu xương của hàng vạn người thân của bên Ba, bên Bốn không?

Trách gì bên Hai không xót xa!

Bao giờ thì các bên thôi hết hận thù? thôi hết nghĩ về thắng thua? thôi hết hát và cười vào ngày 30/4?

Còn một bên nữa. Bên Năm – những người như tôi đây – có người thân ở cả bên Một và bên Hai. Nói đi! những người như tôi nên hát và cười hay nên khóc và hận?

Xin hãy để cho ngày 30.4 hàng năm là ngày tưởng niệm về sự chết chóc và tàn ác do chiến tranh gây ra, hãy để các bên yên lặng và suy ngẫm thay vì hát và cười, cười và hát. Đó là tình người giản dị nhất .

“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”

(Hồ Chí Minh)

@danluan

CHUYẾN VƯỢT BIỂN ĐẪM MÁU

MAI PHÚC

Nói về cuộc sống ở Mỹ của những người Việt Tỵ Nạn mà không nhắc đến những cuộc hành trình gian nguy của họ để rời nơi cố hương thì quả là một thiếu sót? Riêng với tôi, chuyến vượt biên đẫm máu tôi đã từng trải qua sẽ còn mãi ám ảnh tôi cho đến hết những ngày tháng còn lại của mình.

Đó là lần đầu tiên tôi được đặt chân xuống tàu để mong rời khỏi quê hương đầy hận thù ! Đó là những ngày cuối năm, sau khi được người thân ở Mỹ gửi về cho ít tiền viện trợ, má tôi đã lo cho tôi đi vượt biên… Người ta dặn má tôi về nói tôi hãy chờ, khi họ cho người xuống kêu là đi ngay. Ngày ngày, tôi vẫn đi rừng đốn cây như thường lệ trong khi chờ đợi những thay đổi quan trọng sắp đến cho mình.

Đúng như tôi đã lường trước, khi đứa em trai út vào rừng báo cho tôi biết chuyến đi lúc trời đã tối hẳn rồi, đám thợ rừng chúng tôi vừa dựng được cái sàn gỗ mới cưa xong để chuẩn bị làm chỗ ngủ. Tôi vội vàng vừa đi vừa chạy về nhà với đủ thứ âu lo hồi hộp. Sáng sớm hôm sau, tôi đón chuyến xe đò đầu tiên chạy về Saigon, để rồi từ đó đón xe đi Bà Rịa.

Nhớ lời dặn, để tránh sự theo dõi của du kích và công an, tôi đã thận trọng xuống xe ở cách địa điểm “tập kết” của chuyến đi chừng một cây số để đi bộ đến đó. Đêm đầu tiên tôi ngủ trong nhà bà chị cùng đi trong chuyến vượt biên đó, rồi đêm sau tôi được chuyển tới địa điểm ẩn náu khác mà dân ở đó gọi là “nơi nhốt gà”. Phía trước nơi này cũng chỉ là một mái nhà tranh bình thường như mọi ngôi nhà khác, nhưng phía sau có một gian nhà tranh khác được dựng tường kín đáo hơn.

Đi theo người dẫn đường vào bên trong, tôi thấy đã có hơn 50 người khác đang chờ đợi chuyến đi như tôi. Đến đây, tôi bắt đầu sống giữa những tiếng thì thầm, những lời bàn luận; cùng những hy vọng và âu lo do từ những bàn luận của họ. Ngày hôm sau, tôi có dịp làm quen và chia sẻ những quá khứ điêu linh cùng những kinh nghiệm vượt biên và tù đày của họ.

Chúng tôi được chủ nhà cho ăn trưa và ăn tối tại chỗ. Ngay sau bữa tối, họ dắt từng tốp đi ra ngõ sau vườn rồi băng qua những đám ruộng hoang cỏ mọc lộn xọn để đến “bãi”! Trời tối đen như mực nên chúng tôi phải đi sát vào nhau cho khỏi bị lạc và để cho đỡ sợ. Không phải chúng tôi sợ bóng tối mà là sợ những bất trắc bị VC phát giác trên đường đi ra bãi.

Vì là dân rừng, tôi đã giúp nhiều người vượt qua các khe suối, những vũng lầy; và dần dần tôi vượt qua hầu hết đoàn người để nhập vào toán dẫn đầu. Khi người ta đi chậm dần và đứng lại, tôi nhìn thấy đám người vượt biên đến “tập kết” ở bãi đông như cái sân nhà thờ vào ngày lễ chủ nhật, lúc đó tôi có thể thấy lập lờ chiếc tàu vượt biên của chúng tôi đang chập chờn dưới bóng đêm ở ngay con lạch trước mặt.

Thành tàu khá cao nên nhiều người không tự leo lên nổi; tuy nhiên khi tới phiên tôi, chỉ cần vươn hai tay đu lên thành tàu và búng mạnh hai chân một cái là cả thân hình tôi đã hoàn toàn ở trên boong tàu rồi. Vừa lên tới đó, tôi đã bị người ta lùa ngay xuống hầm tàu.

Cửa hầm tàu là một lỗ vuông tối om nằm ở phía gần mũi tàu, chỉ vừa một người chui xuống. Đúng ra đó chỉ là cái ham đựng cá. Bên ngoài dù trời tối nhưng tôi còn có thể nhìn thấy những người gần mình; trái lại sau khi bị dồn xuống hầm cá, hoàn toàn không nhìn thấy gì nữa, ngoại trừ cái ô vuông ở miệng hầm. Tôi không thể biết cái hình dáng hay kích thước phía trong của nó như thế nào, mà chỉ cảm giác được chỗ ngồi bằng 2 tay của mình thôi! Họ lùa người xuống sau dồn người xuống trước tiến sâu hơn nữa vào phía cuối hầm tàu, vừa đi vừa mò mẫm. Tôi bắt đầu cảm thấy lo sợ, lỡ tàu chìm thì làm sao mình thoát ra ngoài được đây? Vì thế tôi chùn bước không dám tiến sâu vào hướng tối đó, mà nép người sang một bên ở gần ô vuông cửa hầm, nhường chỗ cho những người xuống sau theo nhau mà bước sâu vào phía trong. Không nhìn thấy gì nữa; nhưng qua cảm giác với những tiếng nói và tiếng động sột soạt, tôi biết là người ta đang lũ lượt nhảy xuống! Những âm thanh đó kéo dài chừng gần một tiếng, có lẽ mọi người đã được dồn hết vào “chiếc quan tài” trôi nổi đó rồi thì có giọng ra lệnh cho tàu nổ máy chạy. Khi tàu vừa chạy, lại có giọng nói lớn “bây giờ anh em nào công giáo, mình đọc kinh đi”; và tàu vẫn cứ đều đều chạy.

Tiếng kinh râm ran hòa nhịp với tiếng máy tàu làm tâm hồn tôi cảm thấy yên ổn hơn một chút. Nhưng chợt có giọng nói khác trên tàu ra lệnh “Tất cả im lặng. Gần đến trạm công an!” 1 Tiếng máy lúc đó cũng trở lên nhẹ nhàng hơn, làm như nó đang thận trọng trước những hiểm nguy đang rình chờ…

Có tiếng trẻ thơ khóc trong tàu làm mọi người lo lắng; một vài tiếng người thì thầm phản đối. Có tiếng nói “bóp mũi nó lại không cho nó khóc nữa!” Rồi bỗng có tiếng ra lệnh “cho máy dzọt lẹ lên, chạy hết ga đi!”

Trong khoảnh khắc sau đó, tôi nghe tiếng súng nổ; thế là rồi. Tôi phải ngồi nghiến răng, ghì mạnh hai tay vào ván tàu đã nghe tiếng súng! Tàu đang chạy hết tốc lực, có lúc tiếng súng xa dần để nhường chỗ cho những hy vọng trở lại… Tiếng súng nghe xa, nhưng vẫn tiếp tục nổ. Căng thẳng! Chúng tôi đặt hy vọng vào người tài công đang điều khiển chiếc tàu, và dồn những hy vọng khác vào động cơ tàu để mong đẩy chiếc tàu vọt nhanh hơn cho mau thoát khỏi chốn nguy nan!

Những giây phút căng thẳng này là những khoảnh khắc tranh chấp giữa sống và chết, giữa hạnh phúc và đau khổ, giữa may mắn và ngục tù; giữa đấu tranh chịu đựng và những chọn lựa ! Đây chính là giai đoạn khó nhất mà chúng tôi phải trải qua để tìm được tự do Hàng trăm người trên tàu, nhưng không ai dám nói chuyện và cựa quậy; mọi người đều tập trung một ý nghĩ mong sao chiếc tàu lướt nhanh hơn và êm hơn để thắng lươt những giờ phút nguy kịch đó !

Đột nhiên, có những tiếng súng nổ chát chúa gần bên tàu. Tôi cảm thấy chiếc tàu bẻ cua sang tay trái và chạy sượt vào mé bờ. Có nhiều tiếng kêu trời ơi cứu tôi! Chiếc tàu chỉ lệch sang một bên nhưng chưa chìm, nó gượng lại thăng bằng và tiếp tục chạy giữa tiếng súng nổ liên hồi. Trong bóng tối, tôi nghiến răng ghì mạnh tay vào ván tàu để nỗi lo sợ của mình không buột ra khỏi miệng, như một số người khác. Có tiếng nói trong tàu bảo tài công ngừng lại, nhưng có tiếng nói khác ra lệnh cứ tiếp tục chạy.

Đạn đã bắn xuyên nhiều vào trong tàu, nhiều tiếng rên la bên trong nhưng lúc đó tôi chỉ chú ý lắng nghe tiếng đạn bay xeo xéo sượt vào thành tàu! Rồi tôi nghe tiếng chiếc tàu khác gạt vào mũi tàu tôi làm nó bị lệch hướng đâm xập vào bờ! Con tàu chênh vênh một lần nữa tưởng như muốn bị lật úp; Nhiều người giành nhau chui ra cái lỗ ô vuông cửa hầm tàu ngay phía gần đầu tôi. Có khi hai ba người giành nhau chui ra một lúc làm cho những người muốn thoát ra mất thì giờ hơn. Nhìn qua ô vuông đó, tôi thấy những ánh đèn pha sáng chói bên ngoài.

Tôi không giành chui ra với họ là vì còn nuối tiếc chiếc tàu. Đến khi trống trải không còn ai dám chui ra nữa thì tôi lại lo sợ, tại sao mình lại ngồi trong đó để cho tàu chìm mà chờ chết ; và tôi liền quyết định chui lên!

Vừa chui lên, tôi đã bị chói mất bởi ánh đèn pha từ phía chiếc tàu VC; Sau này vào tù thì tôi mới biết được rằng đó chính là chiếc tàu của những người tù chung với tôi, họ bị bắt trong chuyến vượt biên trước chúng tôi. Công an VC đứng dàn hàng ngang trên boong tàu đó, họ đang nhắm bắn từng người đang bơi dưới con lạch nhỏ như những thợ săn nhắm bắn những chiếc gáo dừa đang trôi lềnh bềnh dưới nước!

Vừa chui từ dưới hầm cá lên khỏi cái lỗ ô vuông, tôi giơ hai tay lên đầu hàng. Một tên công an nó hỏi tôi hai, ba câu; sau đó chúng chú ý nhắm bắn những “chiếc gáo dừa” kia, nên đột nhiên tôi quyết định nhảy trở lại xuống hầm tàu! Sáng hôm sau, ngay chỗ cửa hầm tàu là xác chết của một đứa cháu họ của tôi, nó bị bắn bể thái dương và rớt trở lại xuống dưới!

Sau khi hoàn toàn làm chủ tình hình, không còn ai dám nhảy xuống nước bỏ trốn nữa, công an VC vẫn để những đèn pha chỉa vào chung quanh chiếc tàu và cho phép một số chúng tôi leo lên boong nằm đợi lệnh. Nằm trên boong và dưới ánh neon pha, tôi nhìn thấy xác chết của người thợ máy chiếc tàu chúng tôi nổi lềnh bềnh cạnh đó. Suốt đêm, lẫn trong tiếng vi vu của gió biển là những tiếng rên la não nề của những người bị thương nằm dưới hầm tàu.

Đến sáng thì những người ba con của tôi đi kiểm điểm người thân trên tàu, thấy mất một số, có thể họ đã nhảy xuống nước bơi và trốn được rồi. Nhưng lại có người không biết bơi mà tìm mãi vẫn không thấy họ; Có người cho biết ở cái sàn phía sau máy tàu có ba, bốn người bị bắn chết nằm chồng lên nhau. Tôi vội vã ra đó kiểm chứng kỹ xem có người thân nào của tôi không.

Lần này tôi mới chú ý nhìn mặt những xác chết, ….đúng rồi, nó chết rồi! Nó bị bắn vỡ một góc đầu ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, dựa lên xác của một thanh niên khác cũng bị trúng đạn ngay tai. Còn một xác chết nữa ngay cạnh đó bị bắn trong tư thế quỳ chổng mông lên trời trông như một trái núi, đầu cúi khom xuống sát sàn gỗ, có lẽ để núp đạn; nhưng tôi cũng thấy một đường máu khô trên sàn tàu chảy ra từ phía đầu của nạn nhân. Cả ba xác đó đều mở trợn trừng mắt… nhìn tôi? Thế là đã có hai người thân của tôi chết trong chuyến đi này! Còn hai xác khác bên trong tàu là một ông già bị đạn bắn nát ngực, và xác đứa bé khóc lúc tàu chạy gần trạm công an. Không biết nó bị người ta xô lấn hay bị bóp mũi cho chết lúc nó đang khóc!

Mãi tới chừng 10 giờ sáng hôm sau, công an mới đem một chiếc tàu khác đến chở những người bị thương đi. Có người trong tàu đứng ra quyên tiền và vàng để đút cho công an. Sau khi mang số vàng bạc sang nộp cho công an, mọi người đều hy vọng chờ đợi; nhưng chờ hoài cũng chẳng có gì.

Mãi tới lúc chiều tối, có chiếc tàu công an khác chạy tới, bọn chúng lùa tất cả mọi người lên tàu này chở vào nhà tù. Một số người là thân nhân của những nạn nhân bị chết, bọn công an “cho” ở lại để dọn xác những người chết xuống bãi, người ta hy vọng sẽ được thả . Tôi ở trong nhóm khoảng 10 thanh niên được ở lại đó, đến chiều gần tối mới có một tên công an cấp lớn hơn đến giải quyết với chúng tôi. Đầu tiên hắn hăm dọa chúng tôi, dí họng súng K54 vào đầu từng người để khám xét. Ông chú họ của tôi bị hắn hăm dọa dữ quá đã phải chắp tay lạy hắn! Sau đó hắn ra lệnh chúng tôi phải khiêng các xác người chết trên tàu xuống.

Hắn ra lệnh và bắt chúng tôi phải làm thật nhanh. Tôi rất sợ xác chết và sợ máu nên đi sau cùng và phải đứng dưới nước để đỡ những xác chết được chuyền xuống. Lúc này chiếc tàu không còn người nữa nên nó nổi rất cao, tôi phải giơ thẳng hai tay lên mới đỡ tới những xác chết chuyền trên boong xuống. Thấy tôi nhút nhát, tên công an VC để ngón tay trỏ vào cò súng và dí mạnh họng súng K54 vào gáy tôi bắt phải làm việc cho nhanh.

Khi những xác chết được lần lượt chuyền xuống, máu và óc của những nạn nhân đó đã chảy đầy xuống đầu, mặt và toàn thân tôi. Lúc đó tôi quên cả cảm giác với máu và óc vì cái cảm giác lạnh và cứng của họng súng K54 sau gáy nó chi phối hết nỗi sợ hãi của mình, không may tên VC đó lỡ tay thì trong khoảnh khắc cái mạng của tôi cũng sẽ tương tự như các nạn nhân kia thôi! Sau khi làm xong việc chuyển xác, tên công an bắt chúng tôi rửa sạch những vết máu trên tàu. Rồi hắn đưa chúng tôi lên tàu nhỏ của hắn cho đồng bọn chở về bãi Lam Sơn ở gần Bà Rịa. Vì tên công an VC này sợ chúng tôi chạy trốn nên đã bắt chúng tôi di chuyển bằng cách bò từ đó qua xóm nhà dân, qua chợ Lam Sơn ra tới đường lộ. Hắn dồn chúng tôi lên một xe lam chở về nhập chung với nhóm người bị giải đi trước tại trạm Gò Dầu. Từ đây, sau khi VC lột hết vàng bạc của mọi người, chúng dùng xe công an chở thẳng chúng tôi vào trại giam B5 ở Biên Hòa. Giữa đêm hàng trăm người chúng tôi đã bị nhét chung vào một chiếc phòng chỉ bằng phòng ngủ master room của một gia đình ở Mỹ. Tôi đã phải ngồi khít giữa khối người chen chúc và ngủ thiếp đi vì mệt mỏi và tuyệt vọng.

Sáng hôm sau tới giờ làm việc bọn công an VC lại bắt đầu một màn điều tra, khám xét nữa. Chúng hỏi cung, làm hồ sơ lý lịch, rồi từng người chúng tôi phải cởi hết quần áo đưa cho chúng khám xét. Rồi lần lượt mỗi người phải đi ngang chiếc bàn và hả miệng ra cho tên công an VC kiểm kê mấy chiếc răng vàng hoặc “khâu” vàng nào giấu trong miệng? Phòng bên cạnh là một công an khác chuyên “điều trị” lỗ đít. Từng người phải đến đó, chổng đít lên gần mặt nó và banh lớn lỗ đít ra cho nó kiếm vàng bên trong chỗ đó!

Sau đủ thứ thủ tục kỳ dị ấy, mọi đồ đạc đều bị cướp hết. Mọi người được đưa vào một khu vực có tường dầy cao và hàng rào kẽm gai phía trên, cùng những chòi canh trên cao ở bốn góc. Vào trong khu này tôi nghe thấy tiếng rì rào như những đàn ong đang bay. Đến khi được đưa lại gần các căn phòng phát ra những âm thanh đó thì mới biết đó là nơi cư trú mới của tôi. Từng phòng nhìn vào tối om, có cánh cửa sắt và hàng chấn song sắt lớn. Nhìn mãi tôi mới nhận ra một số người ở trần, mặc xà lỏn và đầu trọc lóc đang đứng gần song sắt nhìn chúng tôi, trông họ ốm nhom như lũ khỉ.

Khoảng 5 phút sau, tên quản giáo đến mở khóa đưa chúng tôi vào nơi cư trú mới, nhập bọn với “lũ khỉ” bên trong! Vì quá tối nên phải đứng chớp mắt một lúc tôi mới nhìn rõ hết được căn phòng. Cả một xã hội mới, chẳng bao lâu chính tôi cũng trở nên y hệt “lũ khỉ” đó; nhưng sau một thời gian tôi cảm thấy cái xã hội trong đó còn có tình nghĩa hơn xã hội bên ngoài ma tôi đã sống!

Nhiều năm đã qua. Sau cùng, tôi cũng đã tới được xứ sở tự do, nhưng mãi mãi, chuyến vượt biên đẫm máu ấy còn ám ảnh tôi.

Như đã nói, nhiều vị có nói là phải quên quá khứ. Riêng tôi, quá khứ của tôi tuy không đẹp nhưng tôi không có gì mặc cảm với những gì tôi đã kinh qua. Nó là những bài học quý giá cho chính tôi về con người và nhất là về xã hội nơi cố hương tôi đã từng sống.

Quá khứ đó cũng là những kinh nghiệm xương máu, mồ hôi và nước mắt; và bằng chính mạng sống của những nạn nhân đã cùng cảnh ngộ như chúng tôi khi còn ở đó. Những hy sinh của họ đã xúc động lương tâm thế giới để chúng ta được cơ hội đến đây tỵ nạn và xây dựng cuộc sống mới hôm nay… Cuộc sống của chúng ta hôm nay, há chẳng phải được xây dựng trên nền tảng quá khứ thương đau đó sao?

Cuộc “chia phần giữ ghế” lần thứ 11

Có lẽ nên gọi đại hội đảng lần thứ 11 như vậy!

Các câu “phi thương bất phú”, “nhất bản vạn lợi”để chỉ: không buôn bán thì chẳng thể giàu và buôn bán là nghề sinh lợi nhiều nhất. Ngày nay ở Việt Nam các câu thành ngữ đó đã lỗi thời vì đã có một nghề làm giàu nhanh hơn nghề đi buôn, đó là nghề “làm cán bộ”. Nghề này không những giúp cho bản thân, gia đình mà ngay cả họ hàng thân cận, phe nhóm cũng được “ăn theo”. Ai còn có chút hồ nghi xin mời hãy vào mạng để thăm tư dinh của cựu tống bí thư Lê Khả Phiêu. Cặp ngà voi, chiếc trống đồng, vườn rau sạch, bức tượng đồng bán thân đắt tiền,…, cùng nét mặt tươi cười của các đồng hương khi trao quà cho “bác” quyết không thể là ngụy tạo được. Nếu không muốn vào mạng, bạn có thể tới các dinh thự của lãnh đạo các tỉnh, cấp trung ương, hoặc tương đương. Dù có chó dữ phải đứng ngoài, hoặc nhìn từ xa, bạn vẫn thấy được vẻ hoành tráng, bề thế của nó. Còn nếu lười, bạn cứ tìm quanh đâu đó dinh thự của cán bộ cấp phường, cấp thành phố, hoặc của một cán bộ cỡ vừa vừa để kiểm chứng. Một công dân muốn làm giàu một cách thực sự phải là người tài, giỏi làm ăn, mạo hiểm và phải chọn được cách làm giàu phù hợp. Đã là cán bộ mà là cán bộ càng to thì việc làm giàu đối với họ càng dễ, thậm chí chẳng cần phải “làm”mà vẫn cứ “giàu”. Một lãnh đạo “cỡ vừa”, ký một quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất bao giờ cũng được những người đề xuất “lại quả”, thường là vài mảnh đất giá trị bạc tỉ. Những việc cất nhắc, đề bạt thậm chí kỷ luật cán bộ luôn là những cơ hội để cán bộ cấp trên nhận những phong bì lót tay thật dày. Muốn nhận được những công trình, dự án “béo bở” không phải là gia đình, người thân, phe cánh của quan chức thì phải có tiền cho cán bộ có quyền phân phối. Công trình phải tính thêm tiền chi cho cán bộ phân phối dự án nên chất lượng nhanh xuống cấp cũng là lẽ thường. Lại có những hình thức nhận hối lộ của cán bộ “rất hợp pháp” dù ai cũng biết nhưng cũng đành phải chịu. Đó là việc tổ chức cưới xin, ma chay cho thân nhân của “sếp”. Lâu nay đã thành lệ, mừng đám cưới, phúng đám ma bao giờ cũng kèm phong bì. Đây là dịp để cấp dưới hối lộ “sếp”bằng cách mừng hoặc phúng những phong bì “dày bất thường”.

Như vậy nghề “làm cán bộ”trở thành nghề có khi chẳng cần phải bỏ ra “bản”nào nhưng triệu hay tỉ “lợi”thu về e cũng chưa hết. Ngoài đặc điểm giàu có nhanh chóng dễ dàng, nghề “làm cán bộ” còn có một thân nhân tốt. Có thân nhân tốt khi “bị lộ”, “lâm nạn”, hoặc phải đóng vai “Lê Lai” các quan chức nhà ta dễ dàng thoát tội hoặc biến tội tày đình thành tội nhẹ. Đã có vô số các vụ án cùng một tội danh nhưng những các quan chức cấp càng cao thì càng được xử nhẹ thậm chí còn trở nên thành vô tội. Nếu chẳng may lỡ bị tù những thân nhân tốt đó cũng nhanh chóng được ân xá. Lương Quốc Dũng, Mai Văn Dâu, Trần Mai Hạnh, Phạm Sĩ Chiến,… đều là những cán bộ cao cấp, có thân nhân tốt nên khi bị tù đều được ra tù trước thời hạn. Huỳnh Ngọc Sĩ vì phải làm “tốt” để “thí” phải ngồi tù nhưng với thân nhân tốt chỉ phải chịu bản án nhẹ hơn rất nhiều so với tội mắc phải và một điều chắc chắn sẽ được ân xá trước thời hạn. Vụ án mua dâm nữ học sinh ở Hà Giang những kẻ có tội là hàng loạt quan chức tỉnh nhưng đều có thân nhân tốt là làm “cán bộ to” nên phiên sơ thẩm đều được “miến nêu tên”.


Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn sang nhấn mạnh: “Việt Nam nguyện kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Chỉ cần kể sơ sơ như vậy cũng đủ thấy sự “cuốn hút”, “hấp dẫn” của nghề “làm cán bộ”. Bởi thế nên thiên hạ đua nhau: chưa được làm thì phấn đấu, được rồi thì muốn làm to hơn, to rồi thì muốn làm to nữa, bằng đủ mọi cách. Nhưng để “làm cán bộ” ở Việt Nam đâu có dễ. Nước có thể chế dân chủ đa nguyên đa đảng, muốn làm cán bộ phải được dân bầu. Đảng nào được dân bầu cho nhiều phiếu trong bầu cử quốc hội được thành lập chính phủ, chỉ định cán bộ. Ở Việt Nam để được đề bạt làm cán bộ lãnh đạo phải do đảng cử. Hiến pháp quy định đảng cộng sản lãnh đạo đất nước. Đảng tổ chức bầu ra quốc hội, chỉ đạo để đại biểu quốc hội đa phần là đảng viên. Quốc hội thành lập chính phủ bổ nhiệm cán bộ tất nhiên cũng đa phần là đảng viên. Do vậy có một quy định không nằm trong văn bản nhà nước là muốn làm cán bộ phải là đảng viên. Chính vì vậy hiện nay có rất nhiều kẻ miệng thì phê phán chế độ tham nhũng, thối nát, không tin vào sự lãnh đạo của đảng nhưng tay thì vẫn viết đơn xin vào đảng vì đó là tiêu chuẩn để được làm cán bộ lãnh đạo. Để làm cán bộ cấp càng cao ngoài tiêu chuẩn là đảng viên còn phải có chân trong cấp ủy của chi bộ, đảng bộ. Muốn làm lãnh đạo tỉnh hoặc giám đốc một sở quan trọng thì nhất thiết trong đại hội đảng bộ tỉnh trước đó người đó phải được bầu là tỉnh ủy viên. Bí thư các tỉnh, thành phố quan trọng, lãnh đạo các bộ quan trọng trong chính phủ đều là các ủy viên trung ương. Tổng bí thư, thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, bộ trưởng bộ quốc phòng, công an đều là các ủy viên bộ chính trị.

Cuộc chạy đua giành các vị trí lãnh đạo diễn ra liên tục nhưng quyết liệt nhất là vào các kỳ đại hội đảng. Kết quả nhân sự sau đại hội cấp nào sẽ quyết định đội ngũ lãnh đạo chính quyền cùng cấp trong nhiệm kỳ đó. Chức vụ lãnh đạo càng cao càng có nhiều “béo bở” nên mức độ quyết liệt của cuộc chạy đua tăng theo cấp của các đại hội đảng bộ. Đã có những chuyện thật của những người trong cuộc tả về mức độ căng thẳng, hồi hộp của các đại biểu khi chờ kết quả bỏ phiếu trong các đại hội tỉnh đảng bộ: Trúng cử tỉnh ủy viên thì hớn hở ra mặt, không trúng thì ủ rũ như đưa đám.Thậm chí “khi không trúng tỉnh ủy viên có đại biểu cùng cả gia đình đã khóc lóc như cha chết” (nguyên văn lời của một dảng viên lão thành kẻ về đại hội tỉnh đảng bộ của tỉnh nọ). Trong các nước dân chủ, để giành ghế trong bầu cử các đảng phái thi nhau đề ra, thực hiện các chính sách để “nịnh” dân để được nhiều phiếu bầu và tất nhiên người hưởng lợi là dân chúng. Ở Việt Nam để giành ghế trong các kỳ đại hội đảng những người tham gia chỉ cần thực hiện các màn đấu đá nội bộ, đánh bóng tên tuổi mình. Thực tế đã có rất nhiều vụ tham nhũng lớn được phát hiện, điều tra, xét xử xuất phát từ việc đấu đá, tranh giành địa vị của các cá nhân, phe nhóm. Khi trả lời phỏng vấn của phóng viên BBC ông Nguyễn Trường Tộ chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang nghi can trong vụ mua dâm nữ sinh có cho biết ông là nạn nhân của cuộc đấu đá giành ghế trước đại hội đảng bộ tỉnh. Lời của ông là đúng hay sai phải chờ kết quả điều tra nhưng công luận vẫn được biết về những thủ đoạn tranh giành địa vị của quan chức Việt Nam hiện nay. Những chuyến công du liên tiếp tới Mỹ, tới Miến Điện trong những ngày gần đây Nguyễn Tấn Dũng khiến dư luận cũng đặt câu hỏi. Tại sao ông lại sốt sắng dự hội đàm về vũ khí hạt nhân đến vậy, khi Việt Nam là nước chưa có? Đó phải chăng là ông muốn đánh bóng tên tuổi nhằm giành được chiếc ghế tổng bí thư trong đại hội tới.

Như thông lệ quy định kịch bản của đại hội đảng các cấp cũng như trung ương sẽ là : các đại biểu sẽ nghe báo cáo chính trị về tổng kết, đánh giá nhiệm kỳ trước, đề xuất phương hướng cho nhiệm kỳ tiếp theo có thể là 5 năm hoặc nhiều hơn, đại biểu phát biểu dưới dạng tham luận, biểu quyết nghị quyết đề ra, cuối cùng là bầu ban chấp hành khóa mới và bầu đại biểu đi dự hội nghị cấp cao hơn (nếu là đại hội cấp địa phương).Tuy chưa công bố dự thảo báo cáo chính trị nhưng qua các phát biều của các nhân vật chủ chốt trong bộ chính trị, kết quả của hội nghị TW 10, những lời“đưa đẩy”, “nói theo”của các báo nhà nước và một loạt các động thái gần đây của đảng, chính quyền người ta có thể thấy rằng: Sẽ chẳng có gì mới, chẳng có cải cách về chính trị trong những năm tới. Nghĩa là đảng vẫn khư khư giữ lấy điều 4 hiến pháp như một lá bùa hộ mệnh, kiên quyết không thực hiện đa nguyên, đa đảng và tất nhiên vẫn không chịu thực thi các quyền tự do dân chủ cho người dân. Về kinh tế tiếp tục dùng khẩu hiệu lừa bịp “kiên định với đường lối đi lên XHCN”, dùng mô hình kinh tế quái gở “nền kinh tế thị trường với định hướng XHCN” nhằm duy trì các tập đoàn kinh tế nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước để bòn rút tài nguyên quốc gia làm giàu, củng cố địa vị cho các cán bộ lãnh đạo cùng phe nhóm.Về ngoại giao: tiếp tục tung hô “16 chữ vàng”, “4 tốt” mà thực chất là nhượng bộ hết yêu cầu này đến yêu cầu khác ngày càng ngang ngược của quan thày Bắc Kinh với mục đích chỉ để bảo vệ đảng, mặc dân tộc, mặc đất nước đứng trước thảm họa. Có thể có một vài điểm mới trong điều lệ là bổ xung thêm một số điều đảng viên không được làm nhằm chống những biểu hiện tự diễn biến trong đảng viên. Xây dựng tổ chức đảng trong các cơ sở kinh tế tư nhân. Để tỏ vẻ dân chủ, biết nghe dân “tiết mục kêu gọi toàn dân đóng góp cho đại hội đảng” cũng được trình diễn. Nhưng kết cục đã được tiên liệu nghĩa là: những ý kiến đóng góp “ dễ nghe” sẽ được công khai, còn loại “khó nghe” sẽ lần lượt được bỏ vào sọt rác, có chăng người ta chỉ giữ lại những địa chỉ của người đóng góp để tiện bề theo dõi. Mọi sự lặp lại giống y như các đại hội trước thì dĩ nhiên phần bầu bán nhân sự gọi nôm na là “chia phần giữ ghế”liên quan tới những “vị trí béo bở” trong nhiệm kỳ tới sẽ là phần được các đại biểu quan tâm nhiều nhất. Đại hội 11 khiến người ta liên tưởng tới trích đoạn “Mẹ đốp” trong vở chèo cổ “Quan Âm Thị Kính” mỉa mai cảnh tranh ăn của các chức sắc trong một làng phong kiến thủa xưa.

Nguyễn minh Triết và Hồ Cẩm Đào

Dùng những ngôn từ thật kêu: “đại hội của trí tuệ”, “đại hội đảng là ngày hội lớn của dân tộc”, “cuộc đổi mới lần 2”…để quảng cáo cho đại hội đảng 11 trước cả năm trời nhưng chỉ thu được sự thờ ơ, ghẻ lạnh của người dân. Bởi người dân đâu phải chỉ nghe thấy những lời hoa mỹ đó mà họ còn được “hưởng”, phải chịu đủ thứ “thành quả”do sự lãnh đạo của đảng mang lại từ mấy chục năm qua. Bởi người dân đã quá chán ghét sự lãnh đạo của đảng. Đại hội đảng lần thứ11 thực sự chỉ có thể thu hút được hai đối tượng quan tâm tới đó là những kẻ hy vọng được chia chác những “vị trí béo bở” ở nhiệm kỳ tới và những kẻ tò mò muốn biết sau đại hội ai sẽ là tổng bí thư?Ai sẽ là thủ tướng?Ai sẽ là…?…Và đó là lý do để gọi đại hội đảng lần thứ11 là: cuộc “chia phần giữ ghế” lần thứ 11

4/2010 TRẦN HOÀNG LAN

@ ToQuoc

NHÀ CỦA CỐ TỔNG BÍ THƯ LÊ KHẢ PHIÊU