Kẻ thù của giới kiểm duyệt internet Trung Quốc xuất đầu lộ diện

Ông đã từng điều trần trước đây, trước một tiểu ban của Quốc hội – nhưng ẩn danh – và khi người ta phỏng vấn ông trên hệ thống truyền hình được phát đi trên toàn quốc, người ta chỉ quây phim cho cuộc phỏng vấn này từ đằng sau lưng và giọng nói của ông được biến âm đi. Vì sợ nhà nước Trung Quốc, mà người kỹ sư điện toán kiêm chuyên viên tham vấn ở vùng Silicon Valley ăn nói nhỏ nhẹ này đã giữ kín tin tức cá nhân về mình. Cho đến bây giờ…
Mike Swift – Ti Đa-Kao chuyển ngữĐối với giới kiểm soát internet Trung Quốc, ông là kẻ thù. Đối với thế giới, ông chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt.

(Nhưng), khi ông ngồi nhắp chuột trên mạng internet ở một quán cà phê nằm trong vùng Silicon Valley, tiểu bang California hôm thứ Năm rồi, bạn không thể nào ngờ ra được là cả nữa triệu người ở Trung Quốc, Iran, Việt Nam (DCVOnline chú thích) và những nước khác nhờ vào nhu liệu của ông nào mà “vượt” được tường lửa và tránh khỏi bị nhà nước dòm ngó, và ước chừng hiện nay nhà nước Trung Quốc tốn cơm nuôi một đạo quân 50.000 kỹ sư điện toán đang gắng sức chỉ để ngăn chận, vô hiệu hóa ông này và những người khác; và một tiểu ban của quốc hội Hoa Kỳ đã tranh luận không những giúp cho đại công ty Google đối đầu với sự kiểm duyệt của nhà nước Trung Quốc, mà còn bàn về công việc của ông kỹ sư điện toán này.

Ông đã từng điều trần trước đây, trước một tiểu ban của Quốc hội – nhưng ẩn danh – và khi người ta phỏng vấn ông trên hệ thống truyền hình được phát đi trên toàn quốc, người ta chỉ quây phim cho cuộc phỏng vấn này từ đằng sau lưng và giọng nói của ông được biến âm đi. Vì sợ nhà nước Trung Quốc, mà người kỹ sư điện toán kiêm chuyên viên tham vấn ở vùng Silicon Valley ăn nói nhỏ nhẹ này đã giữ kín tin tức cá nhân về mình. Cho đến bây giờ.

“Tôi nhận ra rằng nếu anh sợ,” Alan Huang nói trong một cuộc phỏng vấn dành riêng cho báo Mercury News, “nhà nước có thể lợi dụng điều đó.”

Hãng của ông Huang, UltraReach Internet, là một trong những hãng lập thành Nhóm Hỗ trợ Tự do Thông tin Mạng Toàn cầu (HTTDTTMHC) . Qua một nhu liệu đơn giản của nhóm này, thường có thể tải xuống qua e-mail, người nhận có thể tự do tung hoành trên mạng mà không bị ngăn chận hoặc bị theo dõi bởi nhà nước của họ và tự do tiếp cận bất cứ trang mạng nào trên mạng lưới Internet toàn cầu.

Như là một người thành viên của nhóm Falun Gong vốn bị nhà nước Trung Quốc cấm sinh hoạt, ông Huang giúp phát triển cái kỹ thuật này trong năm 2002 để giúp các thành viên của Falun Gong liên lạc với nhau. Nhưng liền lập tức ông nhận ra ngay, kỹ thuật này cũng giúp cho người sử dụng vào được những trang mạnh bị cấm, không bị nhà nước kiểm soát, chính là một nhu cầu căn bản, nó không nhất thiết phải là sản phẩm cho một nhóm hay riêng cho một đất nước nào. Ông Huang hoạt động ủng hộ tích cực cho phong trào đòi hỏi dân chủ ở Trung Quốc năm 1989 trước khi dời về Vùng Vịnh năm 1992.

Ông Huang là một trong những nhân vật đóng vai trò then chốt để phát triển và cung cấp nhu liệu cho hằng triệu người từ Trung Quốc, Iran, Việt Nam… vượt tường lửa và tung hoành trên mạng internet mà nhà nước sở tại không thể kiểm soát và theo dõi. Nguồn: Pauline Lubens, Mercury News


Phần lớn người sử dụng nhu liệu này là từ Trung Quốc, nhưng hiện nay số người dùng từ Iran đang có khuynh hướng gia tăng – nơi mà năm rồi chính quyền trấn áp những người hoạt động đấu tranh cho dân chủ dùng YouTube, Facebook và những phương tiện khác trong hệ thống thông tin xã hội để liên lạc nhau – và từ Việt Nam. Nhóm này cũng nhận được nhiều người sử dụng từ United Arab Emirates và những nước khác bao gồm Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

“Nếu anh không có sự riêng tư và không cảm thấy an ninh cho chính anh, anh không có tự do,” ông Huang nói.

Ông Huang lấy làm mừng cho quyết định tuần rồi của Google khi công ty này chuyển qua dịch vụ tìm kiếm trên mạng không bị kiểm duyệt với hệ thống máy chủ nằm ở Hồng Kông. Ông đã quyết định ông không còn muốn dấu mặt ẩn tên nữa khi một nhà báo theo dõi và tìm ra ông mới tuần này, ông nói rằng cái nhu liệu vượt tường lửa của nhóm ông tượng trưng cho “mặt đúng của kỹ thuật, phía đúng của lịch sử.”

Nhóm của ông là một trong những nhóm cung cấp dịch vụ ngày càng trở những dụng cụ quan trọng cho người ở Trung Quốc vượt được bức “Đại Tường Lửa” trong năm năm qua, ông Xiao Qiang nói, ông là giám đốc của Dự án Mạng Trung Quốc ở UC Berkeley và là người thành lập Trung Quốc Thời đại Số. Ông nói rằng nhu cầu đòi hỏi ngày càng nhiều hơn.

“Chúng ta chưa thấy sự trả thù toàn triệt từ phía nhà nước Trung Quốc đối với quyết định ngưng không áp dụng sự kiểm duyệt trên hệ thống tìm kiếm của Google, ông Xiao nói. “Nếu Google bị bắt buộc rút ra khỏi Trung Quốc, điều đó sẽ làm cho Trung Quốc trở thành một thị trường lớn hơn.”

Sự chú ý của thế giới khi Google chấm dứt chuyện kiểm duyệt ở Trung Quốc cũng giúp cho nhóm này cung cấp dịch vụ cho người sử dụng trong tất cả 180 nước. Hôm thứ Tư, ở một buổi điều trần ở Hoa Thạnh Đốn trước Ủy ban Hành pháp – Quốc hội về chuyện Trung Quốc đối với Google, đã có một tranh luận về chuyện thêm nguồn tài trợ liên bang dành cho nhóm này cũng như những nhóm tương tự đang cung cấp kỹ thuật vượt tường lửa – trở thành một vấn đề chính.

Ông Mark Palmer, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Hungary và giờ làm việc cho Freedom House, một nhóm đấu tranh cho nhân quyền, chỉ trích Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thậm tệ vì không không phân phối 30 triệu đô-la thích đáng để giúp cho nhóm HTTDTTMHC này mua thêm máy chủ và thuê thêm người. Hôm tháng Một, một nhóm thượng nghị sĩ dẫn đầu bởi TNS Sam Brownback, đảng Cộng hòa đơn vị tiểu bang Kansas, đã viết thư yêu cầu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bà Clinton giải ngân số tiền này.

“Nói chuyện với bạn bè của tôi ở cả Bộ Ngoại giao và tòa Bạch Cung, nó rõ rằng là chuyện giải ngân chạm trễ này là do mối quan tâm về phản ứng của Trung Quốc,” ông Palmer nói trước một nhóm Thượng nghị sĩ và Dân biểu nằm trong ủy ban này. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã không trả lời một loạt yêu cầu lên tiếng.

Vô hình vô tướng và vô danh. There is only a beautiful hand. Ơi những nhà nước độc tài, catch and lick … my fingers if you can! Nguồn: Onthenet


Ông Palmer nói với tiểu ban quốc hội nếu kỹ thuật chống kiểm duyệt như nhóm HTTDTTMHC này có thể khoét lỗ ở “Bức tường Lửa Vĩ đại” cho dân cư mạng ở một mức độ nào đó, thì chuyện đại công ty Google phải khăn gói qủa mướp chuyển máy tìm kiếm qua Hồng Kông mới tuần này là điều không cần thiết, vì người ta có thể đi thẳng trực tiếp và hệ thống máy tìm kiếm chính của Google. “Geogle đang ở trong một cuộc chiến và tử vì đạo vì thất trận sẽ không giúp gì cho nguyên nhân (cho cuộc chiến này),” ông nói.

Nhóm HTTDTTMHC này cung cấp một nhu liệu mã hóa cho phép người sử dụng internet chuyển địa chỉ IP nhiều lần trong một giây dựa vào một nhóm máy chủ được thành lập cho mục đích này nằm rãi rác trên toàn thế giới, làm vô hiệu hóa chuyện ngăn cản của nhà nước hay sự theo dõi trong bất kỳ nước nào.

Mặc dù đây là một kỹ thuật rất mạnh và hiệu qủa, nó lại rẽ tiền nếu so sánh với hệ thống theo dõi và ngăn chận tốn kém hiện nhà nước Trung Quốc đang thực hiện, nhóm của ông đang làm việc trong điều kiện neo vốn, ông Huang nói. Sau giờ làm việc hằng ngày của ông như là một tư vấn nhu liệu, ông làm việc cho tới khuya rất nhiều đêm cho nhóm của ông, và dùng tiền túi riêng để mua máy móc và dịch vụ cần thiết để làm việc. Nhân viên thì toàn là người thiện nguyện. Nhóm HTTDTTMHC này bao gồm công ty Dynamic Internet Technology ở tiểu bang North Carolina, đã nhận qũy của chính quyền qua Văn phòng Phát thanh Quốc tế, cũng là nơi cung cấp qũy cho Đài Tiếng nói Hoa Kỳ.

Ông Huang giờ đã là công dân Hoa Kỳ. Nhưng ông nói nó vẫn có những lý do để ông sợ nhà nước Trung Quốc vươn tay tới, ngay cả ở vùng Vịnh (Bay Area), và ông yêu cầu nơi ở của ông cũng như như chi tiết cá nhân của ông được giữ riêng tư. Trong lúc ông hoan nghênh cái quyết định của Google mới tuần nay, ông Hoàng nói ông không thể phớt lờ không để ý đến cái chuyện công ty này đã đồng ý với luật kiểm duyệt của Trung Quốc trong bốn năm qua.

“Đối với tôi, tôi cảm thấy nó hơi trễ,” ông nói, nhưng ông nói thêm rằng ông hy vọng chính phủ Hoa Kỳ sẽ cứng rắn hơn với Trung Quốc và những công ty khác sẽ đi theo bước chân của Google. “Microsoft nên làm tương tự; Yahoo nên làm tương tự; Cisco nên làm tương tự.”

© DCVOnline

Nguyễn Chí Vịnh: mầm mống một đại hoạ


“… trong trường hợp có biến động với Trung Quốc ở Biển Đông, Nguyễn Chí Vịnh và TC2 sẽ là “con ngựa Thành Troie”. Và đó chính là đại hoạ của đất nước …”

Những ai theo dõi sát nội tình chính trị Việt Nam những năm gần đây hẳn không có gì xa lạ với cái tên Nguyễn Chí Vịnh, con trai đại tướng Nguyễn Chí Thanh, con nuôi đại tướng Lê Đức Anh, con rể tướng Đặng Vũ Chính, Tổng cục Trưởng Tổng cục Tình báo Quốc phòng (TC2) siêu quyền lực (từ 2002 đến tháng 8/2009) và hiện là Trung tướng Thứ Trưởng quốc phòng (từ tháng 2/2009) quyền lấn át đại tướng Phùng Quang Thanh. Nói “quyền lấn át đại tướng Phùng Quang Thanh” là kể từ khi ông Vịnh chủ trì cuộc họp báo công bố Sách trắng Quốc phòng Việt Nam lần thứ ba hồi tháng 12/2009, và sau đó, chủ toạ một cuộc họp báo công bố chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam đầu tháng 2/2010. Đầu tháng 3/2010, trung tướng Vịnh lại cầm đầu phái đoàn Bộ Quốc phòng gặp gỡ trao đổi với Bộ trưởng quốc phòng Lương Quang Liệt nhân dịp kỷ niệm 60 năm quan hệ song phương. Trong khi phía Việt Nam hầu như không đề cập thì Tân Hoa Xã và báo chí Trung Quốc lại làm rùm beng. Theo Tân Hoa Xã, Trung tướng Vịnh nói: Việt Nam hy vọng sẽ thu gặt nhiều lợi ích từ quan hệ hữu nghị và hiệu quả giữa hai quân đội, vì an ninh khu vực. Trong hoàn cảnh của Việt Nam, khi mà mối nguy thật sự chỉ phát xuất từ Trung Quốc và tranh chấp Biển Đông, người ta có thể hiểu rằng chiến lược quốc phòng của Việt Nam đã mất tính chất độc lập tự chủ như vẫn rêu rao, và hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc với tất cả những hệ quả tai hại của nó. Ngoài ra, với tư cách Thứ trưởng đặc trách tình báo quốc phòng bao trùm TC2 (với Trung tướng Tổng cục trưởng Lưu Đức Huy vốn là tay chân), ông Vịnh có thể cho phía Trung Quốc biết rõ nội tình các nhân vật hiện đang tranh chức Tổng bí thư và chờ phía Trung Quốc cho ý kiến. Đó đã từng là công tác của ông cách đây 5 năm (cuối 2005) trong chuyến đi bí mật sang Bắc Kinh trước khi đại hội 10 nhóm họp năm 2006.

Một chỉ dấu về khả năng can thiệp này (qua TC2 và Nguyễn Chí Vịnh) là trường hợp ông Nguyễn Tấn Dũng có thể đã phải chịu sức ép để rút khỏi cuộc đua chức Tổng bí thư. Cách đây không lâu, ông Dũng đã được dự đoán sẽ được bầu làm Tổng bí thư qua một số biện pháp trình diễn trên thông tấn nhà nước. Ông Dũng còn tuyên bố lấy lòng phe tham nhũng đương quyền “Trong 7 năm làm thủ tướng, tôi chưa từng kỷ luật ai !”. Đây là một câu nói “lịch sử” của một thủ tướng “quyết tâm” chống tham nhũng, phù hợp với bản chất tham tiền cố hữu của ông. Chuyện ông Dũng nhận phong bì 5, 10 triệu đồng một cách thoải mái là điều ít ai không biết. Kể cả chuyện nhận 150 triệu đô của Trung Quốc về việc khai thác bô-xít… Tuy nhiên, việc mất điểm gần đây của ông Dũng (với Trung Quốc) liên quan đến câu trả lời có vẻ mạnh miệng của ông với một giáo sư Harvard đến phỏng vấn về mối quan hệ Hoa-Việt: “Thời đại nước lớn bắt nạt nước bé đã lỗi thời!”. Báo điện tử VietnamNet đã phải cắt đoạn này chỉ it phút sau khi đăng. Chưa kể việc yêu cầu “báo chí cần chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền”. Nhân dịp khai mạc Hội nghị Uỷ ban Trung ương đảng lần thứ 12 để bàn về nhân sự và các văn kiện, giới thạo tin trong đó có giáo sư Carlyle Thayer đã đề cập đến 5 uỷ viên Bộ Chính trị trong tầm ngắm chức Tổng bí thư (không có tên ông Dũng) mà nổi bật làTrương Tấn Sang (nhân vật mới lên số 2 Bộ chính trị) và chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, một người có hỗn danh là “Trọng lú”, rất thân cận với Bắc Kinh.

Nguyễn Chí Vịnh là thứ trưởng Quốc phòng duy nhất không có chân trong Uỷ ban Trung ương đảng. Về cấp bậc cũng thua tất cả các thứ trưởng khác (Thượng tướng) và hiện đang được chuẩn bị để được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khoá 11 cùng nắm giữ những chức vụ quan trọng.

Trong thực tế, Nguyễn Chí Vịnh hiện nay là nhân vật quyền uy nhất trong bóng tối của đảng cộng sản Việt Nam chủ yếu vì đã “bỏ túi” và nắm trong tay toàn bộ hồ sơ với những tì vết của các uỷ viên Bộ chính trị. Nhân vật quyền uy nhất đó lại là tay sai của cộng sản Trung Quốc. Đó là một khẳng định tuyệt đối. Người ta không quên Báo cáo của Bộ Quốc phòng tại Hội nghị Quân uỷ Trung ương mở rộng ngày 24 tháng 8 năm 2004 do Nguyễn Chí Vịnh soạn thảo: “Cơ quan tình báo Hoa hải ngoại nhận định: Việt Nam không nên sốt sắng gia nhập WTO vì, nếu Việt Nam xem việc gia nhập WTO là một mục tiêu ưu tiên, đồng nghĩa với sự “đổi màu” của xu hướng chính trị ngày một gia tăng, do những điều kiện gia nhập WTO đưa ra về mặt cải cách”. Chúng ta đã biết hậu quả của chính sách lệ thuộc này như thế nào. Cũng không nên quên về chiến dịch bắt bớ những nhân vật đấu tranh cho dân chủ gần đây như Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức… có bàn tay của TC2 và Cục Tình báo Hoa Nam.

Nguyễn Chí Vịnh và vương triều Vũ Chính

Nguyễn Chí Vịnh đã được biết đến nhiều kể từ khi thành tích lưu manh (bị đuổi học Đại học kỹ thuật quân sự năm 1977 vì ăn cắp quân trang nhà kho) và bước đường làm ăn lem nhem (chiếm đoạt bất động sản, hợp đồng thương mại quân sự bi-đông và các công ty thương mại bình phong…), thủ đoạn mua chuộc, khống chế (kể cả Lê Khả Phiêu) và chỗ dựa vững chắc (nhóm G7, bố vợ, bố nuôi…), tất cả được phơi bày qua bài viết của Võ Đồng Đội và phổ biến tràn lan trên mạng qua điện thư số 41 (tháng 3/2005) của Câu lạc bộ Dân chủ (1). Điện thư số 43 của CLBDC còn đưa ra nhận xét từ một thầy giáo trực tiếp của Nguyễn Chí Vịnh: “Học sinh Vịnh học lực yếu, ý thức tổ chức xấu, tính tự do vô kỷ luật, lại hay cầm đầu các vi phạm, tư cách riêng khác là rất thích giao du với con gái, và hay thông qua sinh hoạt ca hát, ăn uống để tiếp cận họ là một gánh nặng thêm cho nhiệm vụ đào tạo và rèn luyện của nhà trường, đặc biệt của khoa quân sự”.

Chân dung của Nguyễn Chí Vịnh còn được mô tả đầy đủ hơn trong loạt bài về “Vương triều Vũ Chính” phổ biến tràn lan trên mạng. Vương triều này khởi đầu từ 1995 khi Cục 2 (Cục quân báo) được nâng lên thành Tổng cục tình báo quân đội (TC2) ngang hàng với Bộ Tổng Tham mưu, trực thuộc Bộ Quốc phòng . Vì được sự nâng đỡ của tướng Lê Đức Anh vốn là thượng cấp cũ tại Quân khu 9 và Campuchia, tướng Tổng cục trưởng Đặng Vũ Chính lên thay tướng Như Văn về hưu đã lợi dụng đặc quyền của Tổng cục để đưa hai con (Đặng Vũ Dũng, Đặng Thị Tuyết), vợ Nguyễn Thị Nhẫn và nhất là con rể Nguyễn Chí Vịnh thao túng, lũng đoạn, biến TC2 thành một vương triều phục vụ cho mưu đồ tư lợi và nối dõi của mình . Kể từ khi làm rể ông Chính, Nguyễn Chí Vịnh thăng cấp đều đều trước niên hạn mặc dù không thành tích hay thành tích ảo, về chức vụ cũng vậy. Nguyễn Chí Vịnh cũng lợi dụng đưa thủ túc lưu manh như Phạm Ngọc Hùng (Hùng Tút), cùng bị đuổi học Đại học Kỹ thuật quân sự vì trộm cắp như Nguyễn Chí Vịnh lên địa vị Phó Tổng Cục trưởng (ngoại giao) hiện nay. Quan trọng hơn cả, qua những trò làm ăn bất chính tham ô trong TC2, Nguyễn Chí Vịnh có một tài sản kếch sù cả nổi lẫn chìm được ước lượng nhiều trăm triệu đô, một tài liệu còn đưa ra con số 1,2 tỷ đô.

Ông Vũ Chính từng nói với người quen: “Cháu nó là con cán bộ cao cấp, phải nâng đỡ cháu… Tôi sẽ đưa cháu làm tổng cục trưởng, đại hội IX đưa cháu vào BCH TW, đến giữa nhiệm kỳ vào Bộ Chính trị, phải để cho cháu nên tướng”.

Mưu đồ này của ông Chính bị trục trặc tai đại hội IX do Đại hội đảng TC2 không tín nhiệm, vì lúc đó ông chưa gài được nhiều tay chân bộ hạ. Vả lại, lúc đó (2001) đang xảy ra vụ tai tiếng A10 doTC2 cài để nghe lén các uỷ viên BCT. Lê Khả Phiêu đã bị mất chức giữa nhiệm kỳ do cố vấn thái thượng hoàng Lê Đức Anh tung ra nội vụ. Đến thời kỷ trước Đại hội 10, thì nổi lên “Vụ án TC2” nổ tung trên mạng và trong dư luận khiến Nguyễn Chí Vịnh đành phải tạm thời “nín thở qua sông” tuy vẫn tiếp tục thăng tiến lên Trung tướng.

Vụ án TC2 và chân dung một tội phạm đích thực

Cái được coi là Vụ án Tổng Cục 2 bắt nguồn chủ yếu từ lá thư của tướng Giáp ngày 3/1/2004 tố cáo vai trò siêu quyền lực của cơ quan này đã đẻ ra vụ án siêu nghiêm trọng Sáu Sứ và T4. TC2, như đã nói, được tướng Lê Đức Anh cho phép thành lập năm 1995 từ Cục 2 (Quân báo) nhưng đã được nâng lên thành Tổng cục Tình báo quốc phòng ngang hàng Bộ Tổng tham mưu và trực thuộc Bộ quốc phòng. Tuy nhiên, với Pháp lệnh quốc phòng (tháng 12/96) do chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ban hành và Nghị định 96/CP (tháng 7/97) do thủ tướng Võ Văn Kiệt ký (ông Kiệt nói là phải mất 6 tháng mới buông bút ký), TC2 đã trở thành một siêu quyền lực vượt qua Bộ quốc phòng. Bởi vì TC2 tuy thuộc Bộ quốc phòng nhưng quyền hạn bao trùm mọi lãnh vực như như chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học kỹ thuật, kỹ nghệ và môi trường, văn hóa xã hội. Đối tượng tin tức và nhất là quyền hạn của TC2 khiến cơ quan này không những vượt qua Tổng cục an ninh của Bộ Công an mà còn đi xa hơn. TC2 có quyền cài cắm nhân viên ở mọi cơ quan, quyền sử dụng con dấu của mọi cơ quan, quyền chi tiêu vượt mức (ngân sách lớn bằng nửa Bộ quốc phòng), quyền trực tiếp báo cáo Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Thủ tướng, quyền được thăng cấp đến trung tá…

Thực tế, TC2 đã lợi dụng ngụy tạo tài liệu và trở thành cơ quan phục vụ quyền lợi mưu đồ cá nhân của Lê Đức Anh trong tranh chấp nội bộ đảng thay vì nhắm vào các đối tượng cơ hữu của mình. Những vụ như Lý Tống thả truyền đơn trong khi người của TC2 bán bầu trời, rồi để xảy ra vụ Tây Nguyên nổi loạn, Thái Bình nổi sóng, Năm Cam vùng vẫy, chẳng thấy TC2 báo động. Từ đó, những vụ án Sáu Sứ, T4, báo cáo mật của Quân uỷ mở rộng do Nguyễn Chí Vịnh soạn thảo đã được thực hiện.

Lá thư của tướng Giáp đã được sự đồng tình của rất nhiều tướng lĩnh tên tuổi, mà nổi bật là Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh với 4 lá thư (2), trong đó lá thư ngày 17/06/2004 là đặc biệt quan trọng. Tướng Khánh đã trình bầy rõ vụ Siêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991) của Cục 2 và chủ yếu nhấn mạnh vụ T4 do Đặng Vũ Chính (Tổng cục trưởng TC2) và Nguyễn Chí Vịnh (Tổng cục phó) dàn dựng. Vụ T4 đã được mô tả là do TC2 bịa ra một đặc tình giả tưởng đã cài cắm vào CIA và đưa tin những tin tức ngụy tạo liên quan việc liên lạc, chỉ đạo của CIA trong mưu đồ đảo chính của hàng chục nhân vật quan trọng trong đó có: Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, Trương Tấn Sang, Trương Vĩnh Trọng, Phạm Gia Khiêm, Phan Diễn, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Văn Dũng, Võ Thị Thắng…

Để có một ý niệm về tính chất nghiêm trọng của nội vụ, chúng ta thử đọc qua một số bản tin nêu trong lá thư ngày 17/6/2004 liên quan đến ông Trương Tấn Sang, nhân vật số 2 Bộ chính trị hiện nay:

“Nhóm Trương Tấn Sang đang có kế hoạch tác động, móc nối lôi kéo để liên kết ông Ngô Xuân Lộc, Nguyễn Khánh Toàn và một số tướng lĩnh Quân đội và Công an, giao chúng nắm giữ các vị trí quan trọng trong Chính phủ Việt Nam từ địa phương đến Trung ương.
(Bản tin số 497 ngày 24/3/99).

“Các chuyên gia CIA nhận định một cuộc đảo chính có thể xảy ra vào tháng 7, tháng 8/1999 ở Việt Nam. Vai trò chủ chốt là Trương Tấn Sang và Trần Văn Tạo.

“Tư Sang, Tư Tạo tập trung thu phục phái tù Côn Đảo ở Thành phố Hồ Chí Minh. Phái này có khả năng trở thành phe phái hợp pháp đối lập trong Đảng Cộng sản, lấy địa bàn Sài Gòn làm căn cứ”.

“Đã có sự liên kết mới giữa Ngô Xuân Lộc, Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Khánh Toàn, Đoàn Mạnh Giao, Lê Vân Dũng, Phan Trung Kiên, Nguyễn Văn Rop. Việc đảo chính của phe nhóm này sẽ tập trung vào kỳ họp 2 Quốc hội”.
(Bản tin ngày 2/8/1999)

“Tối 06/1/99 có một cuộc họp do Tư Sang tổ chức, tham dự có Võ Trần Chí, ông Đặng (giám đốc sở công nghiệp). Ba Ngộ và một nhân vật bí hiểm… Nội dung cuộc họp: Bàn mọi cách bảo vệ vị trí Bí thư thành uỷ cho ông Sang, bằng mọi cách lôi kéo vây cánh để cô lập ông Lê Khả Phiêu và tiến tới thay ông Lê Khả Phiêu bằng một hội nghị bất thường vì ông Phiêu không ủng hộ Thành uỷ và ông Tư Sang.

“Có một sự mưu tính từ một số phe phái chính trị. Trong Đảng Việt Nam đang mưu tính một cuộc cải cách chính trị, đảo chính chính trị. Có những kế hoạch tuyệt mật trên cơ sỏ báo cáo của Quốc nội do CIA gửi Văn phòng An ninh, Tổng thống. Phe phái chính trị này dự tính sẽ lôi kéo cả ông Lê Khả Phiêu và Phan Văn Khải đứng về phía họ …Lúc bấy giờ Phan Văn Khải và Lê Khả Phiêu cũng phải theo họ vì không còn con đường nào khác. CIA đã chỉ đạo sẽ thực hiện kế hoạch. (Bản tin số 223 ngày 19/1/98)”

Dàn dựng kịch bản của TC2 như trên thì thật vô tiền khoáng hậu trong lịch sử tình báo. Dàn dựng như thế phục vụ mưu đồ của ai? Không ai khác hơn là mưu đồ “lật án”, đảo chính của Lê Đức Anh với sự đồng tình của Trung Quốc.

Đây là một vụ án chính trị cự kỳ nghiêm trọng có liên quan đến toàn bộ cấp lãnh đạo cộng sản. Tướng Khánh đề nghị Bộ chính trị và Ban chấp hành TW nếu không muốn bao che thì phải đưa vấn đề ra giải quyết trước pháp luật về tội phá hoại đảng, chế độ và tổ quốc những người lãnh đạo TC2: Đặng Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh. Chưa kể cần làm rõ những kẻ đứng sau. Nguyễn Chí Vịnh chính là một tội phạm. Tướng Khánh cũng đề nghị Bộ chính trị, Quốc hội phải sửa đổi hoàn toàn hay huỷ bỏ Pháp lệnh tình báo và Nghị định 96/CP.

Trong buổi họp ngày 15/7/2004 giữa tướng Khánh và ông Phan Diễn, bí thư thường vụ, ông Diễn đã đồng ý về đề nghị sửa đổi Pháp lệnh và Nghị định 96/CP nhưng chỉ muốn xử lý nội bộ Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh. Sau phiên họp này, tướng Giáp quyết tâm đưa vấn đề ra trước Ban chấp hành TW. Hội nghị Trung ương 12 đành phải cho thành lập Ban điều tra liên ngành về vụ T4 và hàng chục vụ khác liên quan đến vu khống nội bộ. Nhưng sau đó Nông Đức Mạnh và Bộ chính trị đã giấu không cho đem ra thảo luận báo cáo 70 trang này trước khi đại hội đảng lần thứ 10 nhóm họp. Vụ án TC2 được coi như chìm xuồng vì sự ổn định của chế độ. Nhưng những tồn tại và hệ quả của nó liên quan đến Nguyễn Chí Vịnh và TC2 vẫn tiếp tục.

Từ bài viết “TC2: Vì ai nên nỗi?” đến quyết định kỷ luật Trung tá Vũ Minh Trí

Sau Đại hội 10, trước sự tiếp tục thao túng TC2 của Nguyễn Chí Vịnh và sự đồng loã- hay nói đúng ra là lo sợ- của Bộ chính trị, một làn sóng công phẫn lại nổi lên trong quân đội. Được nói nhiều và lan truyền trên mạng là hai lá thư “Thất trảm sớ” của Trung tá Vũ Minh Ngọc và nhất là lá thư ngày 16/12/2008 “TC2:Vì ai nên nỗi?” của Trung tá Vũ Minh Trí (3), một người đang làm việc tại Cục kỹ thuật TC2.

Lá thư tâm huyết 13.000 chữ của Trung tá Vũ Minh Trí là nỗi lòng của một người có tư cách, ở trong TC2 hơn 10 năm không thể làm ngơ trước những thao túng, tham ô, phe đảng, lừa gạt và bỏ túi cấp trên của Nguyễn Chí Vịnh và đồng bọn. Từ “mầm kết tinh” Nguyễn Chí Vịnh, những mạng lưới của cái xấu đã hình thành và lan rộng, những cán bộ tốt bị vô hiệu hoá, nhuộm đen, những thành phần lưu manh, vô học đã được thăng cấp vượt mức. Trong sinh hoạt, đã hình thành việc ngu hoá cán bộ một cách có hệ thống. Và với cuồng vọng nguy hiểm của Nguyễn Chí Vịnh đã đưa tới những hệ quả nghiêm trọng, đặc biệt là việc thiết lập một mạng lưới lấy “tin tức nội bộ” liên quan đến các nhân vật cao cấp, hoàn toàn ngoài chức năng của TC2.

Lá thư đã nêu những chi tiết xác minh và kết luận về TC2: “Nay đang ở trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng và toàn diện, đang bị chuyển hóa thành khối u ác trong lòng quân đội, trong lòng Đảng, ít nhiều phát tác tới bộ óc của quân đội, của Đảng thì rõ ràng tình báo chiến lược về quân sự cần được mau chóng quét sạch, cắt bỏ, diệt trừ tận gốc những mạng lưới xấu xa, cần được mau chóng thay máu triệt để để trước hết là trong sạch về chính trị, sau đó là khỏe mạnh về nghiệp vụ chứ không phải thay màu da trên xác chết, duy trì một Tổng cục II của Nguyễn Chí Vịnh mà không có Nguyễn Chí Vịnh”. Đó là điều đã xảy ra.

Lá thư của trung tá Vũ Minh Trí đã được sự đồng tình ủng hộ của tướng Võ Nguyên Giáp. Trong lá thư ngày 10/6/2009 gửi Bộ Chính trị và Ban Bí thư, tướng Giáp đã ca ngợi tinh thần dũng cảm của Trung tá Trí khi tố cáo Nguyễn Chí Vịnh đã “phá hoại TC2 toàn diện”. Ông cho rằng sự tố cáo minh danh nói trên là phù hợp với điều lệ đảng và pháp luật Nhà nước nên cần được Uỷ ban Kiểm tra trung ương xem xét kiểm tra. Lá thư của tướng Giáp có nêu chi tiết: “Nguyễn Chí Vịnh trước có những khuyết điểm, đồng chí Nông Đức Mạnh nói với tôi là không thể lên trung tướng và không biết đưa đi đâu để rèn luyện, nhưng thực tế lại không làm như vậy mà tiếp tục thăng quân hàm và giao trọng trách Tổng cục trưởng và hiện nay vừa đề bạt là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm cho ai cũng ngạc nhiên, lo lắng, và nếu không làm rõ thì sẽ còn lên nữa”. Ở đây, chính thắc mắc của tướng Giáp về Nông Đức Mạnh cho thấy ông ta đã nằm trong vòng kim cô của Nguyễn Chí Vịnh từ lâu.

Những tố cáo của Trung tá Vũ Minh Trí với sự ủng hộ của tướng Giáp đã không làm cho tập đoàn Nguyễn Chí Vịnh nao núng. Và chuyện phải đến đã đến như chính Trung tá Trí dự phòng. Ngày 10/02/2010, Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định tước quân hàm sĩ quan đối với Trung tá Vũ Minh Trí, Đảng uỷ TC2 cũng quyết định khai trừ ra khỏi đảng cộng sản đối với ông (4). Lý do nêu lên hoàn toàn chỉ có tính cách hình thức, che đậy: tố cáo sai (không xác định), gửi đơn đến các nơi không có chức năng giải quyết (không đúng, vì ông đã gửi 5 lá đơn tới Đảng uỷ quân sự trung ương,thủ trưởng bộ Quốc Phòng thậm chí với cả Uỷ ban kiểm tra trung ương) và tiết lộ bí mật Đảng (ngoài ý muốn).

Trong phát biểu sau khi nhận kỷ luật, Trung tá Trí xác định: Vì lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước chưa có kết luận và trả lời về các kiến nghị và bài viết “Tổng cục 2: Vì ai nên nỗi ?”, ông coi các quyết định kỷ luật nêu trên là vô giá trị, bất hợp pháp. Ông xác định sẽ tiếp tục đấu tranh. Ông cũng tin rằng “những kẻ đã nhen nhóm ngọn lửa độc hại với nhân dân, đối với đất nước, đã đổ thêm dầu hôi vào ngọn lửa ấy sẽ sớm bị chính ngọn lửa ấy thiêu huỷ, sẽ sớm bị nhân dân và đất nước đào thải”.

Vụ án Nguyễn Chí Vịnh và TC2 chưa kết thúc. Mặc dầu vậy, chúng ta có thể tạm đưa ra một nhận định chung cục.

Chính vì vai trò siêu quyền lực nhưng lệ thuộc vào Trung Quốc của một tên lưu manh, gian ác như Nguyễn Chí Vịnh và TC2, đảng cộng sản Việt Nam đang mau chóng đi vào con đường tự huỷ diệt. Một mặt, nó cho thấy toàn bộ giới lãnh đạo hiện nay cũng như bất cứ nhân vật nào nắm giữ chức Tổng bí thư sau đai hội XI cũng chỉ là những con rối mờ nhạt, không bản lãnh, không có ao ước khác hơn là chia chác để sống còn. Những con rối đó không thể đưa ra những quyết định quan trọng liên quan đến quyền lợi và sự sống còn của đất nước trong hoàn cảnh khó khăn về mọi mặt hiện nay, đặc biệt là mức lạm phát tăng rất cao. Ông Đỗ Mười, một nhân vật vẫn còn ảnh hưởng trong giới lãnh đạo cộng sản, đã tỏ ra ngao ngán về tương lai của đảng trongmột phát biểu tâm sự với người thân: “Chỉ có một nhân vật kiệt xuất mới cứu được đảng mà thôi. Nếu không nó sẽ sụp đổ không lâu nữa”.

Về một mặt khác, trong trường hợp có biến động với Trung Quốc ở Biển Đông, Nguyễn Chí Vịnh và TC2 sẽ là “con ngựa Thành Troie”. Và đó chính là đại hoạ của đất nước.

Rennes 02/04/2010
Tiến Hồng

XIN MỜI ĐỌC THÊM :

(1) Võ Đồng Đội, “Chân dung một tội phạm: Nguyễn Chí Vịnh”. Thông Luận, 30/08/2007.

(2) Nguyễn Nam Khánh, “Bốn lá thư về vấn đề Tổng cục 2 và Lê Đức Anh”. Thông Luận, 08/02/2005.

(3) Vũ Minh Trí, “Tổng Cục 2: Vì ai nên nỗi?”. Thông Luận, 02/08/2009.


Phụ đính: Trích lục một số thông tin từ Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ:

Điều 11, chương 2 của sắc luật này ghi rõ: “Mục tiêu của những lực lượng tình báo quốc phòng là thu thập tin tức và tài liệu liên quan đến Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Phải đặc biệt chú trọng đến những quốc gia, những tổ chức hay cá nhân trong nước cũng như ngoài nước đang âm mưu hay tham gia vào những hoạt động nhằm chống lại đảng cộng sản hay nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Tổng cục C2 chỉ chịu trách nhiệm với bộ trưởng quốc phòng, bộ Chính Trị và chủ tịch nước. Vì quyền hạn quá rộng lớn, bao gồm đủ mọi phạm vi, lại được quyền cho người đến nằm vùng tại các cơ quan, tổng cục này sau đó đã gây ra rất nhiều lạm dụng. Chủ nhiệm tổng cục 2 lúc đó là Đặng Vũ Chính, một người thân cận của Lê Đức Anh khi còn ở quân khu IX và Campuchia. Vũ Chính lên thay Như Văn từ năm 1995.

Sau khi nhậm chức, Đặng Vũ Chính thay hết cán bộ cũ bằng người thân tín. Con trai là Đặng Vũ Dũng đi lao động từ Đông Đức về được cho làm giám đốc công ty xây dựng Hồng Bàng của tổng cục, hai con gái là Đặng Thị Mai, Đặng Thị Ngọc được mang quân hàm đại úy với công tác “cán bộ mật”, vợ là Đặng Thị Nhẫn bắt ép vợ của Như Văn nhường lại chức giám đốc khách sạn Hoàng Đế, và vợ của Trần Tiến Cung (tổng cục phó) cũng phải nhường lại chức giám đốc chi nhánh miền Trung của công ty du lịch Deti Tour.

Năm 2000, Vũ Chính về hưu, nhường chức cho con rể là Nguyễn Chí Vịnh, con trai của Nguyễn Chí Thanh, đồng thời, con trai của Vũ Chính là Đặng Vũ Dũng cũng trở về tổng cục 2 và được cử làm cục phó cục 12, hoạt động tình báo trong khu vực miền Nam.

Ba tháng sau ngày Võ Văn Kiệt và Lê Đức Anh từ chức, đến lượt Đỗ Mười phải nhường chức tổng bí thư cho Lê Khả Phiêu, người đang nắm chức chủ nhiệm tổng cục chính trị của quân đội.

Có tin là dịp hội nghị trung ương đảng họp cuối tháng 12-1997, Lê Đức Anh vẫn mưu toan đưa Lê Khả Phiêu lên chủ tịch Nhà Nước để tự mình nắm chức tổng bí thư nhưng thất bại vì chính Đỗ Mười không muốn từ chức. Nhờ được Đỗ Mười đỡ đầu, Lê Khả Phiêu thắng được một đối thủ mạnh mẽ là Nguyễn Văn An, đang giữ chức trưởng ban tổ chức đảng.

Tin về đồng chí Trương Tấn Sang:

“CIA có nguồn tin từ quốc nội cho hay Bộ Chính trị sẽ loại trừ Trương Tấn Sang sau khi ông ta tổ chức thành công lễ kỷ niệm Sài Gòn 300 năm theo chủ nghĩa dân tộc. Hồ sơ của Tư Sang đã được CIA chuẩn bị cho một vị trí lãnh đạo của phe đối lập trong trường hợp ông ta ra khỏi Bộ Chính trị … CIA hy vọng về sự thành công của Tư Sang trong vai trò lãnh đạo phe đối lập… (Bản tin ngày 25/12/98)

“Nhóm Trương Tấn Sang đang có kế hoạch tác động, móc nối lôi kéo để liên kết ông Ngô Xuân Lộc, Nguyễn Khánh Toàn và một số tướng lĩnh Quân đội và Công an, giao chúng nắm giữ các vị trí quan trọng trong Chính phủ Việt Nam từ địa phương đến Trung ương. (Bản tin số 497 ngày 24/3/99)

“Các chuyên gia CIA nhận định một cuộc đảo chính có thể xảy ra vào tháng 7, tháng 8/1999 ở Việt Nam. Vai trò chủ chốt là Trương Tấn Sang và Trần Văn Tạo.

“Tư Sang, Tư Tạo tập trung thu phục phái tù Côn Đảo ở Thành phố Hồ Chí Minh. Phái này có khả năng trở thành phe phái hợp pháp đối lập trong Đảng Cộng sản, lấy địa bàn Sài Gòn làm căn cứ”.
“Đã có sự liên kết mới giữa Ngô Xuân Lộc, Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Khánh Toàn, Đoàn Mạnh Giao, Lê Vân Dũng, Phan Trung Kiên, Nguyễn Văn Rop. Việc đảo chính của phe nhóm này sẽ tập trung vào kỳ họp 2 Quốc hội”. (Bản tin ngày 2/8/1999)

“Tối 06/1/99 có một cuộc họp do Tư Sang tổ chức, tham dự có Võ Trần Chí, ông Đặng (giám đốc sở công nghiệp). Ba Ngộ và một nhân vật bí hiểm … Nội dung cuộc họp: Bàn mọi cách bảo vệ vị trí Bí thư thành uỷ cho ông Sang, bằng mọi cách lôi kéo vây cánh để cô lập ông Lê Khả Phiêu và tiến tới thay ông Lê Khả Phiêu bằng một hội nghị bất thường vì ông Phiêu không ủng hộ Thành uỷ và ông Tư Sang.
“Có một sự mưu tính từ một số phe phái chính trị. Trong Đảng Việt Nam đang mưu tính một cuộc cải cách chính trị, đảo chính chính trị. Có những kế hoạch tuyệt mật trên cơ sỏ báo cáo của Quốc nội do CIA gửi Văn phòng An ninh, Tổng thống. Phe phái chính trị này dự tính sẽ lôi kéo cả ông Lê Khả Phiêu và Phan Văn Khải đứng về phía họ …Lúc bấy giờ Phan Văn Khải và Lê Khả Phiêu cũng phải theo họ vì không còn con đường nào khác. CIA đã chỉ đạo sẽ thực hiện kế hoạch.(Bản tin số 223 ngày 19/1/98)

Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam , Điện Thư – Số 53 (Tháng 12 năm 2005)

Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận, Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Điện thư gửi thẳng đến bạn đọc. Nếu bạn cần nhận điện thư hoặc góy ý, yễm trợ xin liên lạc: caulacbodanchuvietnam@yahoo.com.

Tin Ghi Nhận:

– Nguyễn Chí Vịnh, người đứng đầu Tổng cục II, đã bí mật đi Trung Quốc. Mục đích chuyến đi của Vịnh là nhằm báo cáo các tin tức tối mật về nội tình đảng CSVN để phiá Trung quốc nắm vững trước khi Hồ Cẩm Đào, Tổng bí thư đảng CS Trung Quốc đến Việt Nam. Bên cạnh đó, Vịnh cần được chỉ đạo cụ thể và trực tiếp từ quan thầy để chuẩn bị đối phó với tình huống trước và sau Đại hội X. Được biết, qua chuyến đi này, Nguyễn Chí Vịnh cũng đã được phiá Trung Quốc hứa hẹn cho một cơ ngơi để phòng thân nếu có bất trắc xảy ra.

© Thông Luận 2010

Từ ứng cử viên Quốc Hội, tới xin tỵ nạn chính trị

Vũ Quí Hạo Nhiên

SANTA ANA (NV) – Người đàn ông 56 tuổi sáng sáng dậy quét sân chùa ở Santa Ana, rồi không còn việc gì nữa để làm ngoài chuyện chờ đợi. Ông chờ giấy phép được đi làm ở Mỹ, và ông chờ cho bánh xe công lý quay dần để giải quyết cho ông lá đơn xin tỵ nạn chính trị.

Mới trước đây 18 năm, ông từng là ứng cử viên tự do ra ứng cử đại biểu Quốc Hội Việt Nam. Qua quan hệ làm ăn, ông từng quen biết Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải. Ông từng tố cáo bí thư tỉnh ủy tham nhũng, tới mức người bí thư bị mất chức, bị đưa ra Hà Nội làm cán bộ ngồi chơi xơi nước. Rồi sau đó, người cựu bí thư này phản công lại, khiến ông từng bị chính quyền từ trung ương tới địa phương soi mói quấy nhiễu, để rồi ông bị tịch thu tài sản, công ty bị tuyên bố vỡ nợ, vụ án mang tên ông từng làm xôn xao dư luận một thời.

Ngày hôm nay, ông mang trong người căn bệnh ung thư, vừa được thả ra từ nhà tù di trú, mới phá được lệnh trục xuất, nhưng đơn tỵ nạn chính trị đã bị bác và còn phải kháng án. Nhà cửa tài sản không có, ông đang ở nhờ trong chùa. Và chờ.

Tên ông là Trần Văn Minh, cựu giám đốc công ty GETRADIMEX, còn có tên rất dài là “Công ty Kinh Doanh Tổng Hợp Ðầu Tư Sản Xuất Xuất Nhập Khẩu Hà Tĩnh.” Công ty này bị giải thể năm 1999. Chính vì vụ giải thể công ty này mà ông Minh trở thành người trốn chạy, bị công an Việt Nam truy nã và gây khó khăn cho đơn di trú của ông.

Từ Bắc vào Nam làm ăn

Sau chiến tranh, như nhiều người dân miền Bắc, ông Minh tìm đường vào Sài Gòn làm ăn. Theo lời chứng của ông tại tòa, thời thập niên 1960, cộng sản tịch thu hết ruộng vườn tài sản của gia đình ông, và xử tử cha ông trước mặt gia đình. Trong chiến tranh, ông bị đưa đi làm khuân vác và tháo gỡ bom mìn. Tới năm 1980, theo lời ông Minh, ông vào Sài Gòn đi buôn và trở thành một người “làm kinh tế” từ đó.

“Thời đó, miền Nam thừa gạo, mà miền Bắc thì đói,” ông nói với Người Việt bằng giọng Hà Tĩnh đã có phần lai tiếng các miền khác. Ông làm một việc rất đơn giản là buôn gạo từ Nam ra Bắc bán.“Cũng có lúc lời, nhưng cũng bị bắt nhiều lần. Hồi đó từ Nam ra Bắc là đi qua trên 100 trạm kiểm soát, thoát trạm này bị trạm kia bắt là thường,” ông kể.Từ buôn gạo, ông có ý muốn “vươn ra” làm xuất nhập cảng, nhưng không được phép. Thời đó chuyện buôn bán với ngoại quốc là độc quyền của nhà nước, qua bộ Ngoại Thương.

Ông Minh chăm chú viết tên các nhân vật ông kể vào sổ của phóng viên Người Việt.

Ông xoay xở sao đó, đẻ ra một “công ty xuất nhập khẩu nội thương của Hà Tĩnh,” một sự trái nghĩa ngang nhiên mà chỉ có được trong một chế độ nhiều cấm đoán. Ðó chính là công ty GETRADIMEX sau này.

Như nhiều cơ sở làm ăn trong nước, công ty GETRADIMEX tuy danh nghĩa là công ty nhà nước, nhưng trên thực tế là một công ty tư nhân do ông Minh bỏ vốn vào và điều hành.

“Khách hàng là Singapore, Ðài Loan, chủ yếu là xuất hàng song mây, gỗ, gạo, sắt phế liệu,” ông kể.

Tới năm 1992, khi tỉnh Nghệ Tĩnh tách làm Nghệ An và Hà Tĩnh, ông ra ứng cử đại biểu Quốc Hội. Trong hồ sơ nộp tại tòa án, có hai trang lấy từ báo địa phương Thông tin Hà Tĩnh tháng 7, năm 1992, viết về người ứng cử viên tự do này.

Phóng viên báo này viết:

“9 giờ 15 phút tối, tôi lại đạp xe đến nhà anh. Ðến cổng vừa may gặp Minh về… Tôi vui vẻ: – Chào ‘đồng chí Quốc Hội’!” Câu “đồng chí Quốc Hội” này sẽ gây khó khăn cho ông Minh sau này.

Lần bầu cử đó có 5 ứng cử viên, người dân chọn 3. Ngoài ông Minh, các ứng cử viên kia gồm có một người “do trung ương cử về” là chánh án tòa án tỉnh, một người phụ nữ lúc đó đang là chủ tịch huyện, ông Nguyễn Khắc Táo, phó chủ tịch tỉnh, và ông Trần Quốc Thại, bí thư tỉnh ủy.

Theo ông Minh kể lại, “sau lần đầu tiên ra mắt dân, thì dân nói là ông chánh án do trung ương cử về thì phải bầu rồi, bà phụ nữ thì bầu để có đại biểu phụ nữ, còn một phiếu thì bầu cho ông Minh vì ông làm kinh tế.” Nói cách khác, hai ông Táo và Thại vì thế sẽ có thể rớt.

Họ bèn triệu tập một buổi họp ban chấp hành tỉnh ủy, ra nghị quyết “bằng mọi cách không cho tôi thắng,” ông Minh nói.

Cách gian lận bầu cử cũng rất đơn giản. “Bầu cho 3 người thì hợp lệ, bầu cho 4 người thì không hợp lệ, họ cứ thấy phiếu nào bầu cho tôi thì họ đánh dấu thêm cho thành 4 người, phiếu trở thành không hợp lệ.”

Tố cáo gia đình tỉnh ủy

Giận, và có lẽ cũng có phần nào tin vào thế lực của mình, ông Minh bèn “sục máu chụp cho nó một quả,” theo lời ông nói.

Ông Bí Thư Tỉnh Ủy Trần Quốc Thại có người con rể đi tàu viễn dương. Ông Minh tố cáo người con rể này đưa về 50 chiếc xe hơi và nhiều xe máy mà không đóng thuế. Ông Minh lấy được một tờ giấy do ông Thại ký, ra lệnh cho cục trưởng cục Hải Quan Hà Tĩnh không được tịch thu hàng của con rể, không được bắt nộp thuế, và phải trả hàng cho con rể ông.

Có tờ giấy đó làm bằng, ông Minh đưa ra cho báo chí. Báo Hải Quan đăng tin này, và bộ Nội Vụ yêu cầu khởi tố vụ án. Nhưng khi yêu cầu này được đưa lên trên, thì Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ðảng, là cơ quan có thẩm quyền quyết định mọi việc liên quan tới các vị bí thư tỉnh ủy, không đồng ý khởi tố mà chỉ xử lý hành chính. Ông Thại được điều ra Hà Nội làm cán bộ chuyên viên trong Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng.

Ông Thại đấu ông Minh

Tới đây, câu chuyện của ông Minh kể ra bắt đầu khác với một số thông tin tìm được qua các nguồn khác. Theo một số nguồn tin, bài viết, ông Thại được đồng hóa với việc dung dưỡng ông Minh và khiến ông Minh có thể thao túng công ty GETRADIMEX khiến công ty này phá sản. Trên trang DCVOnline, bài viết của Minh Tâm năm 2006 có đoạn, “Ông Trần Quốc Thại, người nổi tiếng Hà Tĩnh với nhiều vụ việc, nhất là vụ ‘Minh nhớp’ khi ông làm quan đầu tỉnh, nay Minh đã ‘chạy trốn’ (?) qua Canada vi vu với một đống tài sản bị ‘thất thoát’? Còn ông Thại đã hồi hưu hạ cánh ra Hà Nội với những tài sản có được thời ông làm ‘đầy tớ’ dân Hà Tĩnh.”

Còn trang vietbao.vn từ trong nước có đoạn viết về công ty GETRADIMEX như sau, “Cách đây mấy năm, một số lãnh đạo của Hà Tĩnh đã cổ vũ cho những việc làm của Trần Văn Minh (Minh nhớp), ký các văn bản về đầu tư xây dựng cơ bản, xin miễn thuế, giảm thuế không đúng quy định. Hậu quả là GETRADIMEX của Trần Văn Minh phá sản kéo theo món nợ khổng lồ cao hơn cả thu ngân sách tỉnh trong một năm vào thời điểm đó, còn Minh ‘nhớp’ thì bỏ trốn.”

Nhưng ông Minh khẳng định những lời viết này là sai. Ông nói ông Thại chính là người làm hại ông sau khi bị mất chức bí thư và điều ra Hà Nội.

“Tôi biết ông (Võ Văn) Kiệt từ hồi còn ở Sài Gòn, tôi quen cả ông Kiệt cả ông (Phan Văn) Khải. Lúc tôi còn đi buôn thì qua ông Kiệt tôi xin giấy phép vận chuyển gạo. Lúc ông Kiệt xuống thì cánh Ðỗ Mười với Lê Khả Phiêu tố cáo chính phủ o bế tôi.”

Theo ông Minh, từ lúc ra làm trong Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng, ông Thại “cấu kết với ông Vũ Quốc Hùng, phó chủ nhiệm Kiểm Tra Trung Ương, để đánh tôi.”

Từ Hà Nội, ông Hùng gọi ông Minh ra làm việc. “Gọi tôi ra gặp mặt là quan trọng lắm, vì bình thường thì Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương chỉ gặp ủy viên trung ương thôi, trong khi tôi còn không phải là đảng viên nữa.”

Gặp mặt ông Hùng, ông Minh vẫn cứng. “Thời buổi phát triển kinh tế tư bản rồi, muốn làm giàu phải mở mang,” ông kể lại lời ông nói với ông Hùng như vậy.

Cũng từ đó, công ty GETRADIMEX bắt đầu gặp khó khăn.

Ông Minh cho biết, “từ năm 1992 tới 1999, công ty tôi bị trên 40 đoàn thanh tra. Từ trung ương tới địa phương, rồi các bộ, các ngành, rồi liên ngành là nhiều bộ nhiều ngành trong đó.”

“Con số thì họ không thay đổi của tôi được, nhưng câu kết luận thì họ thay đổi được,” ông nói. Một nhà máy đang bỏ máy cũ mua máy mới, trong lúc đang lắp ráp thì đoàn thanh tra viết là “nhà máy bị đóng cửa.”

Liên tiếp 7 năm bị quấy rối, tới 1999, Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương ra lệnh cho tỉnh Hà Tĩnh giải tán GETRADIMEX. Cũng năm đó, ông Minh bị ung thư phải mổ.

Ngồi kể chuyện cho phóng viên trong sân chùa, ông Trần Văn Minh có phong cách rất bình dân, thậm chí bình thường. Ông không có vẻ gì của một người từng cầm đầu công ty lớn nhất tỉnh Hà Tĩnh, từng đi đi về về ngoại quốc như đi chợ, từng khiến một bí thư tỉnh ủy phải mất chức, và từng khiến dư luận một thời xôn xao về công ty của ông.Tới ngày hôm nay, ông Minh vẫn khẳng định công ty GETRADIMEX không hề thua lỗ, mà cái gọi là thua lỗ chỉ là cái cớ, do phía đối thủ của ông bịa ra để ép đóng cửa công ty. Và từ chuyện ép đóng cửa công ty này mà dẫn tới việc ông chạy qua Mỹ và hiện đang phải theo đuổi một vụ án di trú kéo dài.

Người bị ông Minh cho là cố tình phá GETRADIMEX là ông Trần Quốc Thại, cựu bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh. Như kể trong kỳ 1, ông Minh tố cáo ông Thại để cho con rể là Nguyễn Quốc Anh buôn lậu bằng tàu viễn dương, nên ông Thại bị mất chức, bị đưa ra Hà Nội làm cán bộ Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng ngồi chơi xơi nước. Nhưng rồi từ vị trí đó, ông Thại đập lại ông Minh, trong 6 năm công ty bị 40 đoàn thanh tra từ bộ, ngành, tới liên ngành, cho tới khi công ty bị đóng cửa.

Một gia đình quyền thế

Ông Trần Quốc Thại không phải là người thường. Tầm cỡ ô dù của ông Thại rất lớn, và những giai thoại về sự tham nhũng của ông thì cũng rất nhiều.

Trên trang blog Tú Mỡ, có câu chuyện kể 1978 hay 1979, khi một chuyên gia của tổ chức viện trợ quốc tế FAM đến thăm tỉnh Nghệ Tĩnh, người chuyên gia này bày ra mấy cái tem của các chai dầu ăn do họ viện trợ, rồi hỏi mọi người: “có ai biết cái tem này là gì không?”

Blogger này, khi đó có mặt tại chỗ, viết: “Ông Trần Quốc Thại – chủ tịch Nghệ Tĩnh – đã nhanh nhảu trả lời, ồ cái này là mác của loại dầu ăn hạt cải của các ông viện trợ đó, ngon lắm, ngon lắm.

“Trời đất! mấy cái thứ này là của FAM viện trợ cho Việt Nam dùng cho các bà mẹ mang thai, trẻ em suy dinh dưỡng, nhân công đi đào sông Tô Lịch, trồng rừng, đắp đê cơ mà!….

“Vậy mà mấy thứ ngon thì các bố nhà ta đem ra chia nhau chén sạch.”

Ông Trần Ðình Ðàn trong tấm hình chụp năm 2009. (Hình: báo Dân Trí)

Con ông Thại là Trần Ðình Ðàn, xấp xỉ tuổi ông Minh, được cất nhắc vun vút từ huyện đoàn Ðức Thọ lên bí thư tỉnh đoàn, phó chủ tịch rồi chủ tịch tỉnh, rồi bí thư tỉnh ủy, được bầu vào Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng Cộng Sản. Tới năm 2007 ông Ðàn được bầu vào Quốc Hội và được làm Chủ Nhiệm Văn Phòng Quốc Hội.

Chính trong chức vụ này mà ông Ðàn làm một việc nổi tiếng khắp nơi: Vào năm 2009, khi Quốc Hội đang chuẩn bị hội họp và đưa dự án bô-xít ra bàn thảo, trong lúc Quốc Hội còn chưa khai mạc, ông Ðàn đã hùng hồn tuyên bố “Quốc Hội hoàn toàn ủng hộ chủ trương lớn [khai thác bô-xít] này.”

Ông Ðàn còn đe nạt 500 đại biểu còn lại: “Bộ Chính Trị đã ra thông báo về chủ trương … Chắc chắn Quốc Hội sẽ hoàn toàn ủng hộ.”

Con ông Ðàn, tức cháu ông Thại, là Trần Nhật Tân. Tuy mới 33 tuổi, sinh năm 1977, nhưng ông Tân đã từng là phó hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề Việt-Ðức Hà Tĩnh, và tới nay là phó chủ tịch huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh.

Ông Thại đánh, ông Minh thua

Trong những giai thoại về tầm cỡ tham nhũng của ông Thại, có nhiều nguồn nối liền ông Thại với ông Minh. Như trang DCVonline.com, bài viết của tác giả Minh Tâm cho rằng:

“Ông Trần Quốc Thại, người nổi tiếng Hà Tĩnh với nhiều vụ việc, nhất là vụ ‘Minh nhớp’ khi ông làm quan đầu tỉnh, nay (Trần Văn) Minh đã ‘chạy trốn’ (?)qua Canada vi vu với một đống tài sản bị ‘thất thoát’? Còn ông Thại đã hồi hưu hạ cánh ra Hà Nội với những tài sản có được thời ông làm ‘đầy tớ’ dân Hà Tĩnh.”

Tuy nhiên, ông Minh khẳng định ông Thại chính là người làm hại ông.

Một chi tiết trong bài viết của tác giả Minh Tâm không chính xác, là chuyện ông Minh chạy qua Canada: Ông Minh có đi đâu, vào đâu, là đều có ghi lại trong hồ sơ di trú của ông.

Luật Sư Trần Kinh Luân là người đại diện miễn phí cho ông Minh cùng với một luật sư của hội từ thiện Legal Aid Society of Los Angeles. Người luật sư của Legal Aid yêu cầu không tiết lộ danh tánh. Luật Sư Luân tiết lộ với báo Người Việt: “Không có. Trong hồ sơ ông Minh không có gì về việc ông đi Canada hết. Ông Minh qua Mỹ trực tiếp từ Cambodia.”

Cambodia là đường tẩu thoát của ông Minh trên đường tới Mỹ. Năm 1999, sau 7 năm bị phe ông Thại tấn công, ông Minh thua và Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương ra lệnh giải tán GETRADIMEX. Dấu vết của trận đấu đá này tới nay còn đọng lại trong một bài nghiên cứu năm 2007 của Viện Khoa Học Thanh Tra, trong đó ông Nguyễn Khắc Hường, phó vụ trưởng Vụ Thanh Tra Kinh Tế II, viết:

“Trong quá trình hoạt động của công ty (GETRADIMEX), nội bộ lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh thường xuyên có nhận định, đánh giá khác nhau về công ty này, có một số ý kiến cho rằng công ty này làm ăn giỏi, có hiệu quả cần được biểu dương, thậm chí có ý kiến còn cho rằng giám đốc công ty này cần đưa lên làm lãnh đạo của tỉnh Hà Tĩnh. Có những ý kiến khác lại cho rằng công ty này làm ăn kém hiệu quả, có nhiều sai phạm, tiêu cực, tham nhũng.”

Cuộc tranh giành liên quan tới công GETRADIMEX cao tới mức, theo ông Hường, “nội bộ ban lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh mất đoàn kết nghiêm trọng, không thể tiến hành Ðại Hội Ðảng Bộ Tỉnh theo kế hoạch để chuẩn bị cho Ðại Hội Ðảng Toàn Quốc lần thứ VIII (1996).”

Cùng năm 1999 khi công ty GETRADIMEX bị giải thể, ông Minh bị phát hiện có bệnh ung thư. Ông đi mổ, mà chính quyền cũng không để ông yên.

“Lúc tôi nằm viện thế này thì an ninh bao vây bệnh viện. Họ không cho tôi đi đâu cả. Bạn bầu cảnh cáo tôi, bảo tôi phải cẩn thận nếu không có thể bị thủ tiêu,” ông Minh nói.

Bỏ trốn

Nhưng có lẽ một người như ông Minh thì đã sẵn biết điều này rồi, không cần phải dặn. Không những thế, ông đã có sẵn kế hoạch thoát thân từ trước khi bị giải thể công ty.

Ông nhờ bạn sắp xếp cho ông được chuyển từ bệnh viện K qua bệnh viện Ðông Y Dân Tộc của quân đội. Mục đích, theo ông Minh giải thích với Người Việt, là “để làm sao mình di chuyển, mình di chuyển mới có dịp trốn, chứ nằm một chỗ bị bao vây thì không có cách nào trốn được.”

Từ đó, cứ ban ngày ông đi qua bệnh viện Ðông Y để chữa bệnh, tối lại về nằm bệnh viện K. Rồi một hôm, từ bệnh viện K, ông được đưa thẳng lên Nội Bài, mua vé bay vào Sài Gòn.

Ở Sài Gòn, theo ông kể: “tôi đưa sẵn cho bạn tôi giữ giấy tờ, passport, với 5,000 đô. Visa vào Mỹ tôi cũng đã từng có rồi, từ trước khi công ty giải thể.”

Bạn ông giao ông giấy tờ, tiền, passport, rồi chở ông lên Tây Ninh. Từ đó, ông băng biên giới qua Cambodia, “vừa đi bộ vừa đi xe ôm vào Phnom Penh, lấy máy bay đi Mỹ.”

Trên đất Mỹ

Theo hồ sơ tại tòa di trú, ông Minh tới Mỹ tháng 10 năm 1999, vào phi trường LAX bằng visa thương mại B1. Không biết làm gì, ông ở lang thang. Ông khai tại tòa là ông ngủ ở công viên, ăn đồ thừa, và sống như một người vô gia cư. Cho tới khi ông gặp lại một người phụ nữ ông từng gặp nhiều lần trước đây trong những chuyến đi Mỹ. Trong những chuyến đi trước đây, gia đình bà đã nhiều lần nhờ ông mang thư, mang quà cho bà này. Tình cảm nảy nở giữa hai bên, và lần này hai người kết hôn.

Ông tới gặp một luật sư ở vùng Little Saigon, có bằng chuyên môn về di trú, và nhờ ông này làm đơn tỵ nạn chính trị, diện political asylum. Tuy nhiên, người luật sư này khuyên ông làm đơn theo diện kết hôn. Ông nghe theo.

Luật sư nộp đơn xin thẻ xanh theo diện kết hôn, và nộp theo đó bản sao giấy ly dị ở Việt Nam. Phía sở Di Trú bèn cho người liên lạc với công an Việt Nam hỏi về giấy tờ ly dị của ông Trần Văn Minh, và mọi việc rách ra từ đó.

(Tiếp theo kỳ tới: Vụ án di trú)

(Còn tiếp)

@ NguoiViet