Biệt thự trắng

Bạch Dinh còn gọi là Biệt thự trắng, là Villa Blanche – tên người con gái xinh đẹp, yêu mến của viên Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer. Đây vốn là pháo đài cổ Phước Thắng nằm ở phía nam núi Lớn trên độ cao gẩn 30 m so với mực nước biển, do nhà Nguyễn xây dựng năm 1820 để phòng thủ bờ biển Vũng Tàu.
Bạch Dinh  ngự ở số 10, đường Trần Phú, thành phố Vũng Tàu. Năm 1898, Pháp sai dân binh san phẳng pháo đài Phước Thắng và xây dựng một biệt thự làm nơi nghỉ ngơi cho viên Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer và các quan chức cao cấp. Biệt thự cao 19 m, 3 tầng, kiến trúc Pháp thế kỷ 19, tầng hầm dùng để làm kho và nấu nướng, tầng trệt dùng làm khánh tiết, tầng trên dùng là nơi nghỉ ngơi, an dưỡng.


Khó có thể nhớ và kể hết những ai đã từng ngủ, nghỉ và in dấu hình vào Bạch Dinh. Người ta cho rằng, người đầu tiên phải là ngài Paull Doumer mang cả nỗi căng thẳng, buồn phiền vào buồng ngủ, không tìm được sự thanh thản ở Biệt thự trắng, bởi ngài đã nghĩ trăm phương ngàn kế mà chưa bao giờ dẹp được nghĩa quân chống Pháp. Hay vị vua yêu nước Thành Thái, bị an trí ở đây vào năm 1906-1917 đã nhiều lần đứng cô độc bên khẩu thần công cổ lỗ nhìn ra biển với nỗi đau u hoài mất Tổ quốc. Cũng có thể, trong phòng khách cổ kính mang phong cách châu Âu này, ngài Bảo Đại đang nhảy đầm với một cô bồ mắt xanh mũi lõ tóc hung. Và tất nhiên, trí tưởng tượng của tôi được đẩy đi xa tiếp với các gương mặt bí ẩn lúc tối om, lạnh lùng, lòng dạ không yên của ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, hoặc lại như bắt gặp ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và đại sứ Mỹ cùng các tướng lĩnh quân đội  VN Cộng Hòa  xưa…

Bây giờ, Bạch Dinh được dùng làm bảo tàng trưng bày cổ vật con tàu đắm ở Hòn Cau – Côn Đảo và là danh thắng cho bất cứ  nào muốn đến thăm, đến thụ hưởng không gian yên bình với kiến trúc độc đáo có một không hai ở Vũng Tàu.

Tôi đã từng lặng lẽ đứng bên 2 khẩu đại bác và 8 khẩu thần công cổ quay nòng hướng ra biển. Nghe nói, chúng là loại thần công cổ của Pháp và Italy được đúc từ thế kỷ thứ 10. Tôi chia sẻ với du khách ý nghĩ về vật đổi sao dời, về tạo hóa xoay vần: Pháo đài thành Biệt thự trắng rồi biến thành bảo tàng và danh thắng. Sẽ qua hết mọi khổ đau, mồ hôi và máu sẽ chẳng còn rơi, chỉ có ngoài kia là biển xanh thẳm mát mẻ trong lành.Vì vậy, du khách đến Bạch Dinh không chỉ để thưởng ngoạn kiến trúc Pháp mà còn để ký ức tràn về ào ạt, ngẫm nghĩ về cái nơi đã từng in dấu vân tay, hình bóng rất nhiều quan chức Mỹ và các yếu nhân trong chính quyền  ngày trước.


Nắng mới tinh khôi tràn lên Bạch Dinh. Tôi có cảm giác như Biệt thự trắng được giát nắng lại càng thêm trắng, nhưng là cái màu trắng thanh thoát dịu dàng chứ không chói gắt. 8 bức tượng đá nữ bán thân xinh xắn mang gương mặt Đức Mẹ gắn trên một đường bao quanh ba mặt biệt thự bên các vòm cong mang phong cách gô-tích hài hòa, gợi đến nét thanh thoát, trang nhã. Lúc này, cảm xúc tràn đến trong lòng tôi y như một người con gái đồng trinh ngoan hiền đang trôi vào cõi Chúa sống trong an lành, không có đói khát khổ đau, chẳng có giặc giã, chiến tranh.

Lên Bạch Dinh có hai lối, một đường dành cho những ai lười nhác hoặc ít thời gian, hoặc tính hoạt, sôi động… ngồi ô tô leo đến tận bên các khẩu thần công, một lối đi bộ dành cho những người tính trầm tĩnh, sống chậm, có đủ thời gian cho một cái gì đó say mê. Tôi và nhà văn Tạ Duy Anh, nhà văn Đỗ Tiến Thụy chọn lối đi bộ dưới tán cây tỵ xanh. Nhẩn nha bước theo 146 bậc đá lát xanh, chúng tôi đi trong rừng cây của núi Lớn. Hoa đại thanh tao nở trắng xóa rắc đầy bông xuống cỏ và các bậc đá lát. Những cây tỵ thân tròn, thẳng vút, lao xao lá. Trong lành. Tĩnh mịch. Rừng phía sau và bên cạnh “Biệt thự trắng” yên tĩnh đến vô cùng.

Đến Bạch Dinh, bạn đừng quên đứng ở sân, hoặc cửa sổ tầng thượng nhìn ra biển, tầm nhìn xa bao quát được cả Bãi Trước và từ núi Lớn đến núi Nhỏ. Biển mênh mông xa rợn đến tận chân trời. Những con tàu du lịch màu trắng điểm xuyết trên nền nước xanh thẳm bao la. Gió biển thổi dịu dàng mát mẻ và mang hơi mặn nơi đầu lưỡi. Lúc ấy, bạn sẽ nhớ lại những cổ vật là các đồ: Ngà voi Phi châu dài 1,7m, mũi tên đồng, sành sứ, gốm, đất nung,… thời Khang Hy ở con tàu đắm trên vùng biển Hòn Cau, Côn Đảo được trục vớt lên đang trưng bày ở “Biệt thự trắng”. Thời gian không trôi đi mất tăm, thời gian đang hiện hữu từ dĩ vãng buồn đau đến hiện tại sáng rỡ an lành ngay ở “Biệt thự trắng” này.

Chắc chắn có dịp trở lại Vũng Tàu, tôi sẽ lại đến Bạch Dinh bởi không ai có thể cưỡng nổi sự quyến rũ, hấp dẫn lạ lùng của nó.

Sương Nguyệt Minh

@Đất việt

Trà Việt

Nghệ thuật ẩm thực của người Á Đông thắm đượm quan điểm chỉnh thể, lấy sự quân bình âm dương và hoà hợp thiên nhiên làm nền móng, trong đó nghệ thuật thưởng trà là một trong những nghệ thuật ẩm thủy hàng đầu
Ở Việt Nam, tục uống trà có từ rất lâu đời. Người Việt Nam biết đến trà sớm hơn nhiều so với các nước. Theo một tài liệu khảo cứu của Ủy ban khoa học xã hội thì người ta đã tìm thấy những dấu tích của lá và cây chè hóa thạch ở vùng đất tổ Hùng Vương (Phú Thọ). Xa hơn nữa, họ còn nghi ngờ cây chè đã có từ thời kỳ đồ đá sơn vi (văn hóa Hòa Bình). Cho đến nay, ở vùng Suối Giàng (Văn Chấn – Nghĩa Lộ – Yên Bái), trên độ cao 1.000 m so với mặt biển, có một rừng chè hoang khoảng 40.000 cây chè dại, trong đó có một cây chè cổ thụ lớn nhất, ba người ôm không xuể. Ðã có những kết luận khoa học trong và ngoài nước khẳng định rằng: Việt Nam là một trong những “chiếc nôi” cổ nhất của cây chè thế giới.

Tục uống trà ở Việt Nam rất phong phú. Từ cách uống cầu kỳ cổ xưa đến cách uống bình dân, hiện đại. Thường một bộ đồ trà có bốn chén quân, một chén tống để chuyên trà. Nước pha trà phải là thứ nước mưa trong hoặc thứ sương đọng trên lá sen mà người đi thuyền hứng từng giọt vào buổi sớm. Phương ngôn còn lưu truyền những lời dạy về cách uống trà như “trà dư, tửu hậu”, “rượu ngâm nga, trà liền tay”, “Bán dạ tam bôi tửu. Bình minh nhất trản trà”…

Nói đến nghệ thuật thưởng trà Việt Nam là người ta lại nhắc đến thú uống trà của người Hà Nội. Vẻ thanh lịch, trang nhã, sự cầu kỳ trong ẩm thực của người Hà Nội đã nâng tính thẩm mỹ của chén trà lên một trình độ rất cao. Nếu người dân vùng khác thích uống trà “mộc” (trà không ướp hương) thì nhiều gia đình Hà Nội xưa lại thích uống trà ướp sen, trà nhài, trà ngâu, trà cúc, trà sói… Ðặc biệt trà sen là một thứ trà quý chỉ dùng để tiếp khách tri âm hoặc làm quà biếu. Trà sen tựa thứ trà mạn Hà Giang, mỗi cân ướp từ 1000 – 1200 bông sen Tây Hồ và phải là thứ sen chưa bóc cánh với “độ” hương cao nhất. Trà sen loại đặc biệt giá lúc nào cũng ở mức 2 – 3 chỉ vàng một cân. Ở Hà Nội hiện còn khoảng 30 gia đình làm loại trà này.


Ở nông thôn, người bình dân hay uống trà xanh. Đó là những lá chè tươi, rửa sạch, hãm trong nước sôi sủi tăm cá, nước trà thơm dịu, xanh ngắt. Uống trà bằng bát sành, hút thuốc lào và nếu sang hơn, có thêm phong chè lam hoặc kẹo”cu đơ” xứ Nghệ. Ở Nghệ an còn có tục uống “chè gay”, hái cả cành lẫn lá hãm trong nước sôi. Trà được ủ nóng trên bếp than, lúc khát, chắt nước trong nồi ra uống.

Người Việt Nam hiện nay uống chủ yếu là trà xanh sơ chế bằng phương pháp thủ công mà người đời thường gọi là “trà mộc”,”trà sao suốt” hay “trà móc câu”. Gọi là “trà móc câu” vì cánh trà sao quăn giống hình chiếc móc câu. Song người sành trà lại bảo phải gọi là “trà mốc cau” mới đúng vì chè tròn cánh, trôi tay, có mốc trắng như mốc cây cau. Còn “trà sao suốt” là phương pháp sao trà bằng nhiệt, tách nước (giảm bớt thủy phần) bằng tay với ngọn lửa liên tục, đều đặn, không to quá, không nhỏ quá. Người ta sao trà bằng chảo gang. Những thứ trà ngon thường được gọi chung là “chè Thái”. Nhưng thực ra, trà bán ở thị trường hiện nay có rất nhiều nguồn gốc: trà Tân Cương, trà Mạn Hà Giang, trà Vị Xuyên, trà Lục Yên Bái, trà Suối Giàng…. Song trà dù được chế biến, được uống bằng cách nào (độc ẩm, đối ẩm, quần ẩm) vẫn biểu thị một thứ “đạo”. ” Ðạo trà” Việt Nam thật trân trọng ở cách dâng mời đầy ngụ ý. Dù lòng vui hay buồn, dù trời mưa hay nắng, khách cũng không thể từ chối một ly trà nóng khi chủ nhà trân trọng dâng mời bằng hai tay. Dâng trà đã là một ứng xử văn hóa phổ quát biểu hiện sự lễ độ, lòng mến khách. Uống trà cũng là một ứng xử văn hóa. Uống từng ngụm nhỏ để thưởng thức hết cái thơm ngọt của trà và cảm nhận hơi ấm của chén trà đủ nóng bàn tay ta khi mùa đông lạnh giá. Uống để đáp lại lòng mến khách của người dâng trà, để bắt đầu một tâm sự, một nỗi niềm, để bàn chuyện gia đình, xã hội, nhân tình thế thái, để cảm thấy trong trà có cả hương vị của trời đất, cỏ cây. Dâng trà và dùng trà cũng là một biểu hiện phong độ văn hóa, sự thanh cao, tình tri âm, tri kỷ, lòng mong muốn hoà hợp và xóa đi những đố kỵ, hận thù. Uống trà là một cách biểu thị mức độ tình cảm và học vấn người đối thoại.

Những khía cạnh của văn hóa ứng xử Việt Nam rất phong phú và biểu hiện tập trung nhất ở tục uống trà. Người ta có thể uống trà một cách im lặng và nhiều khi sự im lặng đã ẩn chứa nhiều điều. Người ta có thể xét đoán tâm lý người đối thoại khi dùng trà. Khi đã trở thành một cái thú thì người ta không thể quên nó, vì trà đồng nghĩa với sự sảng khoái, tỉnh táo, tĩnh tâm để mưu điều thiện, tránh điều ác. Tuy nhiên, trà cũng rất cần sự tiết độ. Người Việt Nam không uống nhiều, uống đặc và cũng không thể uống liên tục suốt ngày. Vì trà là một triết học về sự tế nhị, nhạy cảm, thanh tao, sự suy ngẫm và óc tỉnh táo. Trà là một sự giao hòa với thiên nhiên, sự ứng xử hợp lý với thời gian, sự tiếp cận đầy nhân tính với không gian, với môi trường và con người. Ở Việt Nam luôn tồn tại một nền văn hóa trà thanh lịch và tỏa hương.

@ Ẩm thực

Mạng Trung Quốc xôn xao chuyện “mua” vợ Việt Nam

Cuối năm 2009, bắt nguồn từ loạt bài viết trên mạng của một người đàn ông ở Nam Kinh kể về hành trình lấy vợ Việt, cơn sốt “sang Việt Nam lấy vợ” đã trở thành tiêu điểm trên các website Trung Quốc và gây tranh cãi trong cư dân mạng đất nước tỉ dân này. Thông tin khiến cư dân mạng phải xuýt xoa là: “…chỉ với 35000 NDT, trong vòng 15 ngày, tác giả đã được thoải mái chọn từ hơn 40 cô gái Việt để làm bà xã cho mình”.
Cho dù những thông tin này không xuất phát từ một cuộc điều tra của một cơ quan chức năng có thẩm quyền, nhưng những điều nêu ra dưới đây chắc hẳn đem lại nhiều suy nghĩ và ứng xử nghiêm túc cho nhiều cô gái muốn lấy chồng nước ngoài.

Cuộc hôn nhân “siêu tốc”: 15 ngày lấy được vợ Việt Nam

Cuối năm 2009, 47 trang viết “Việt Nam tương thân kí” của một cư dân mạng có nickname “Đới Tổng 1912” trở nên cực hot trên mạng khi không chỉ có lượt truy cập khổng lồ mà còn được chia sẻ đường link trên khắp các website khác. Thông tin trong trang viết này khiến cư dân mạng phải xuýt xoa là: “… chỉ với 35.000 NDT, trong vòng 15 ngày, tác giả đã được thoải mái chọn từ hơn 40 cô gái Việt để làm bà xã cho mình”.


Các cô gái Việt mà anh chàng họ Đới được giới thiệu.


Thân phận thực của “Đới Tổng 1912” là giám đốc một công ty tổ chức biểu diễn ở Nam Kinh, đã từng một lần li hôn. Năm 2008, sau khi đọc được quảng cáo “Chỉ với 20.000 NDT, mua về một cô vợ Việt Nam xinh đẹp”, anh chàng không thể tìm được bạn đời thích hợp ở Nam Kinh này cảm thấy hết sức hiếu kì; đã đem thông tin trên bàn tán với bạn bè. Nhưng thật bất ngờ, những người bạn nam của giám đốc Đới hầu như đều nhận được tờ quảng cáo song chưa ai có ý định sang Việt Nam xem tình hình thực hư ra sao.

Tháng 9/2009, anh Đới một mình khăn gói sang Việt Nam. Sau khi đăng tin tìm bạn trên báo, chuông điện thoại của anh reo không ngớt. Sau vài lần không ưng ý, trong một cuộc khiêu vũ xã giao, anh làm quen với một người phụ nữ được xem là “bà mối lớn nhất Việt Nam”. Sau cuộc nói chuyện, anh được bà mối giới thiệu, sắp xếp một cuộc lựa chọn trong hơn 40 cô gái Việt Nam để tìm vợ và anh đã tìm được Ngân, người vợ hiện tại.

Lần sang Việt Nam thứ 2 vào cuối năm 2009, anh Đới hoàn thành việc cưới hỏi và đăng kí kết hôn ở Việt Nam, đồng thời bỏ ra 10.000 NDT để tổ chức tiệc cưới long trọng với 80 bàn tiệc.

Xinh đẹp, hiền thục, chịu khó, nghe lời


Cô Ngân, người vợ Việt Nam hiện tại của anh Đới


Anh Đới cho biết: “Lần đầu tiên gặp người nhà của Ngân, họ rất hài lòng về tôi. Cả 3 chị em Ngân đều được gả sang Trung Quốc. Một người chị lấy chồng Hongkong, một người lấy chồng Đài Loan, gia đình nhà vợ có thể gọi là cũng được mát mặt ở quê nhà”.

“Người vợ Việt Nam của tôi tốt đến nỗi không lời nào tả hết. Nhớ lại hồi đó, tôi mua cho cô bạn gái người Nam Kinh một đôi giày hạ giá mất vài trăm tệ, cô ta chẳng coi là gì. Người vợ hiện nay của tôi không bao giờ đi dạo phố shopping mà toàn mua đồ ở chợ”, anh Đới tiết lộ: “Thậm chí tiền mua sắm hàng ngày còn thừa, cô cũng đưa trả lại cho chồng”. Từ những thông tin này, cộng đồng mạng nhất trí bình chọn vợ của anh Đới: “Không tham, không lười, không tùy tiện, không kiêu kì, không ham tiền, trẻ trung, xinh đẹp, chăm chỉ, hiền thục và quan trọng là biết nghe lời”.

Hiện Ngân đã theo chồng sống ở Nam Kinh. Ngoài việc ở nhà giặt giũ, cơm nước, dọn dẹp, Ngân cũng thường theo chồng đến công ty xem xét, theo học lớp khiêu vũ, nhân tiện học thêm tiếng Trung.

Chi phí: Lễ ra mắt chỉ với 100 NDT

Anh Đới kể lại tường tận chi phí cho việc lấy vợ ở Việt Nam: mời cô gái đi uống cà phê mất 20.000VND, gọi xe mất 100.000VND, lần đầu đến nhà gái mua hoa quả mất 200.000VND, ăn bữa hải sản mất 300.000VND… So với mức chi tiêu ở Trung Quốc, chi phí này có thể nói là thấp đến mức kinh ngạc.

Đánh giá về những cô gái mà anh Đới đã xem mặt ở Việt Nam, cộng đồng mạng đều có chung một nhận định: “Có một số cô thực sự rất xinh, nếu ở Nam Kinh chắc chắn là nổi bật giữa đám đông”. Một cư dân mạng còn tỉ mỉ phân tích: “Đức tính nổi bật của các cô gái Việt Nam đó chính là biết chăm sóc người khác. Trong quá trình hỏi vợ ở Việt Nam, mỗi lần ăn cơm với cô gái, anh Đới đều được cô xới cơm, bóc vỏ tôm, gỡ thịt nạc, chờ anh bắt đầu ăn thì mới động đũa”.

Trước cảnh tượng này, các chàng trai Trung Quốc không khỏi “thèm muốn” bởi họ mới chỉ được “nghe nói” mà không ngờ các cô gái Việt Nam thật sự như vậy! Trước nay, đàn ông Trung Quốc hầu hết phải phục vụ “phái đẹp”.

Trình tự: Bố mẹ vợ đồng ý xem như đã kết hôn


Hình ảnh nồng thắm của hai vợ chồng tại Nam Kinh


Theo anh Đới (cũng như nhiều tờ báo Trung Quốc như Sina, Kinh Sở, Trùng Khánh tin chiều…) thì tỉ lệ nam nữ ở Việt  Nam là 3/5 nên có rất nhiều cô gái muốn lấy chồng ngoại quốc. Ở Việt Nam thậm chí có những “bà mối” chuyên nghiệp, đi tìm những cô gái quê xinh đẹp, muốn lấy chồng ngoại, tập trung lại một chỗ dạy dỗ, sau đó giới thiệu cho đàn ông nước ngoài. Trong rất nhiều quảng cáo môi giới hôn nhân, “bà mối” đưa ra nhiều bảo đảm: trọn gói trong vòng 3 tháng, không chi phí phát sinh, trong vòng 1 năm nếu cô gái bỏ về được “đền” cô khác…

Dựa trên “kinh nghiệm cá nhân”, anh Đới cho rằng muốn lấy được vợ Việt Nam rất đơn giản, chỉ cần cha mẹ cô gái đồng ý là có thể đặt tiệc cưới, thậm chí đăng kí kết hôn có thể làm sau. Đăng kí kết hôn thường mất khoảng 1 tháng, trong thời gian đó, cô dâu ở chỗ môi giới để học tiếng và tập quán sinh hoạt của nước ngoài, chờ đăng kí kết hôn xong là theo chồng xuất ngoại. Anh mô tả: “Người nước ngoài đến Việt Nam lấy vợ rất đông”.

Cư dân mạng: Đây là “mua vợ”

“Hôn nhân kiểu này có thể hạnh phúc được không?”, không ít người bày tỏ quan điểm: “Vợ Việt Nam cái gì cũng nghe theo chồng, không có ý kiến riêng gì về chuyện nhà cửa, tài sản, nghe thì có vẻ dễ chịu; nhưng thực sự như thế chẳng khác nào… người máy. Sống như vậy không vui vẻ gì”.

Không những thế, nhiều người còn tỏ ra phẫn nộ với hình thức “lấy vợ” này, họ cho rằng việc sang Việt Nam “mua vợ” là không thể chấp nhận được, vì dù nói gì, hình thức của nó cũng không mang tính nhân văn và khuyến khích cho những kẻ môi giới kiếm lợi trên những cuộc hôn nhân vội vàng, thiếu tình yêu và sự hiểu biết lẫn nhau.

Theo VTCNews